<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-19823518</id><updated>2011-11-28T20:08:44.623-08:00</updated><title type='text'>TRAN XUAN AN - PCDT NGUYEN VAN TUONG (tap II  B)</title><subtitle type='html'>PCĐT NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886). 
Bộ sách này là kết quả của một quá trình khảo cứu tư liệu lịch sử với những công đoạn điều nghiên và những thao tác khoa học nghiêm túc, cẩn trọng, được diễn đạt bằng ngôn ngữ truyện kí.</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Phan Huyên Đình (Trần Xuân An)</name><uri>http://www.blogger.com/profile/04366565891846379473</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='21' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger/3234/1819/1600/A%203.1.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>5</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-19823518.post-113472664873277738</id><published>2005-12-16T01:30:00.000-08:00</published><updated>2005-12-16T01:50:48.800-08:00</updated><title type='text'>PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 11)</title><content type='html'>Tệp 11 - Tập II  Blog B&lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 3, TRUYỆN KÍ THỨ 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sẽ đăng trên &lt;strong&gt;Tạp chí điện tử Giao Điểm&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;số tháng 12-2005&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm"&gt; http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CUỘC CHIẾN NGOẠI GIAO&lt;br /&gt;VÀ NGOẠI THƯƠNG&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Truyện kí thứ tám&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;(phân đoạn 3)                        &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      8&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Hình, đại thần Viện – Bạc, cũng là quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường bàn luận tình hình, công việc và sau đó tuân chỉ dụ của vua, viết văn thư cho Phủ súy Pháp tại Gia Định (60). Trong bản văn thư tháng ba nguyệt lịch này, ông chỉ nêu lên bốn vấn đề:&lt;br /&gt;1. Yêu cầu Pháp tiễu trừ giặc biển từ Bình Thuận đến Hải – Yên (theo “hoà” ước).&lt;br /&gt;2. Yêu cầu Pháp cho khách thương buôn gạo Nam Kì ra Bắc Kì, vì ở miền ngoài, dân đang thiếu đói.&lt;br /&gt;3. Không nên căm thù Lưu Vĩnh Phúc, Lưu cũng như Françis Garnier. &lt;br /&gt;4. Chưa có thể cho tàu thuyền thông thương lên Vân Nam, vì thương ước chưa có hiệu lực thi hành (thời hiệu) (60).&lt;br /&gt;      Với yêu cầu thứ hai, quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường gián tiếp khẳng định sẽ không thể nào “bồi thường” như các giám mục, linh mục Nghệ – Tĩnh và chánh, phó sứ Brossard de Corbigny, Regnault de Premesni kêu đòi! Yêu cầu ấy, còn oái oăm, bi kịch là ở chỗ khác nữa: vựa lúa Nam Kì vốn nuôi sống cả Trung Kì, có thể trợ cấp cho Bắc Kì, nhưng nay đành phải yêu cầu ở Pháp chở ra để bán cho Bắc Kì thiếu đói!&lt;br /&gt;      Một yêu cầu khác, văn thư lần này cũng xác định Lưu Vĩnh Phúc đã quy phục, được xem như thần tử (tôi con) trong nước (mặc dù vẫn là “hiệp sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ tà”, “ngoài vòng cương toả”); &lt;em&gt;“nay “hoà” ước đã định, đều bỏ hết chớ ngờ để khỏi sinh hiềm khích” (60)&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Và hậu quả chua xót cũng là kết quả “lật tẩy” thắng lợi từ cuộc Pháp gây biến Bắc Kì vẫn còn phải giải quyết tiếp. Triều đình phải trị tội bọn quan lại của ta tự “lật tẩy”, trơ trẽn phô bày thói cơ hội “theo gió xoay buồm” khi giặc Pháp khích hấn, xâm lược và bốn tỉnh thất thủ. Đó là tên tri phủ Kiến Xương Đào Trọng Kỳ (61) (người xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, kẻ làm xấu hổ quê hương Trạng Trình! (62)); hai tên khác là quan võ, đều sung làm hiệp quản, Lê Đình Quyên và Nguyễn Văn Quy (61). Đồng thời, tiếp tục khen thưởng nhiều xã, như Trung Năng thuộc huyện Phổ An, Bá Vân thuộc huyện Đại Từ, đều ở tỉnh Thái Nguyên, tự đem quân đoàn luyện (hương binh) chống bọn phỉ và có khả năng chống cả bọn Pháp, khiến chúng không thể đánh chiếm được các huyện, làng ấy.&lt;br /&gt;      Việc ở Bắc Kì còn thêm nặng nề khi bước vào tháng tư năm Ất hợi này, ấy là đê Văn Giang lại vỡ! Thế là nạn đói lại đe doạ, nạn đói mà quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường mới viết thư yêu cầu Pháp phải chở gạo ra bán! Lãnh tuần vũ Nghệ An Vũ Trọng Bình mới được chỉ dụ về kinh nhận chức tả tham tri Bộ Lại với lời khen của vua, &lt;em&gt; “để đem thói [:đức tính] liêm chính sẵn có, làm phép cân nhắc, chắc được xứng chức” (63)&lt;/em&gt; như Nguyễn Văn Tường năm nào dâng sớ đề nghị, nhưng, tiếc thay, vì vỡ đê Văn Giang là việc khẩn cấp, ông lại tất tả ra ngoài ấy “phát chẩn và sửa đê điều cho vững” (63).&lt;br /&gt;      Và bi kịch Ông Ích Khiêm lại xảy ra!&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “[Vua] sai giải [giao] nguyên quyền tán tương quân thứ Bắc Ninh là Ông Ích Khiêm về kinh đợi án.&lt;br /&gt;      Bấy giờ Ích Khiêm đem quân đánh giặc ở An Định (thuộc Bắc Ninh), tự thu quân về. Tổng đốc Bắc Ninh Tôn Thất Thuyết cho là Ích khiêm đánh giặc [mà] thương tổn [:hao quân, tổn lính ta] nhiều, tự tiện đem quân về, không theo tướng lệnh, [nên] bắt xích giam ngay, tâu xin xử trí. Quan tỉnh Hải Dương Phạm Phú Thứ [lại] nghe người nói Ích Khiêm đánh thắng, đã trình, rồi [mới] về, [nên ông] xin phái quan to đến tra xét và xin điệu [Ích Khiêm] về Hải Dương để trấn áp [phỉ]. Vua sai giải giao [Ích Khiêm] cho tỉnh Đông [:Hải – Yên] phái đi làm việc. Tôn Thất Thuyết lại tâu: “Tỉnh Đông hiện có phái viên nước Pháp ở đấy bàn bạc [việc thương chính], [và] sự thể tỉnh Đông, tỉnh Bắc cùng quan trọng, mà Ích Khiêm thì tâm tình, ngôn ngữ không phải là người yên thường giữ phận, sợ đến dỗ dành người khác sinh sự, tưởng quan tổng đốc tỉnh Đông không áp chế được. Xin chuẩn cho đem Ích Khiêm về kinh xử trị, để khỏi trở ngại”.&lt;br /&gt;      Vua nghe theo, sai giải giao [Ích Khiêm] cho Hà Nội xét qua, giải thẳng về kinh chờ án. (Sau Ích Khiêm đến kinh, mắc bệnh tâm hoả [lo phiền], liền cho về quê)” (64) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Chả là Tôn Thất Thuyết mặc dù đang chất chứa trong tim mối căm thù giặc Pháp, mối căm thù sùng sục khôn nguôi, ông cũng đành phải lo âu về việc làm vỡ không khí  nghị “hoà” bất đắc dĩ, chẳng đặng đừng ở Hải – Yên. Danh tướng Tôn Thất Thuyết ngại rằng, chính danh tướng Ông Ích Khiêm sẽ không kìm chế được lòng căm thù Pháp như mình, gây ra khích biến.&lt;br /&gt;      Ở kinh đô Huế, thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường không biết nói sao, khi Ông Ích Khiêm được giải vào, cơn bệnh tâm hoả ăm ắp lo phiền của ông ấy lại phát ra. Nguyễn  Văn Tường không ngờ số phận thần đồng văn chương cũng là danh tướng quân sự của Ông Ích Khiêm lại bi kịch đến thế! Ông chỉ biết cùng triều đình miễn nghị, và tiễn Ông Ích Khiêm vào lại làng quê Phong Lệ, huyện Diên Phước ở đất Quảng Nam tả trực kì. Khi tiễn chân vị danh tướng họ Ông, thượng thư Nguyễn Văn Tường chỉ biết nói với con người bi kịch ấy: “Gắng chữa khỏi bệnh, rồi lại ra kinh đô, cùng nhau làm việc tại Bộ. Chẳng có gì phải nản chí”.&lt;br /&gt;      Chỉ mươi, mười lăm hôm sau, với chức năng quan Thương bạc, Nguyễn Văn Tường lại phải cùng Viện – Bạc hội bàn về chính mắc mứu giữa phái viên Pháp Dujardin với tổng đốc Bắc Ninh kiêm thống lĩnh quân vụ Ninh – Thái – Lạng – Bằng Tôn Thất Thuyết (65).&lt;br /&gt;      Bấy giờ, Pháp đang làm dinh thự Nha Thương chính ở xã Gia Viên, tỉnh Hải Dương, gồm trụ sở cho lãnh sự, quan thu thuế và bọn lính Pháp hộ tùng, cũng cho cả linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư, kẻ đang được giữ chức tham biện, một chức quan của triều đình (66). Bấy giờ, hai trăm (200) bản thương ước Giáp tuất đã được in ra phát hành cho các tỉnh, những người buôn Trung Hoa, để có cơ sở làm công tác thuế quan và thuận lợi trong việc thương mại (67). Và cũng bấy giờ, Nha Thương bạc của triều đình Huế đang được làm tạm bằng tranh tre ngoài Thành Nội, phía bên trái cửa Đông Nam (Thượng Tứ), nơi nhìn ra bờ sông Hương (68). Những tưởng những thù oán, hiềm khích trước khi kí kết “hoà” ước, thương ước đã dịu hẳn, nhưng thực tế không phải thế.&lt;br /&gt;      Tháng mười nguyệt lịch năm ngoái (1874), tướng Pháp tại Gia Định vẫn còn ra lệnh cho Dujardin cùng tàu Sắc Tê (La Sarthe? Le Salteé?) chở thức ăn đến cung cấp cho Jean Dupuis. Tất nhiên, có lẽ Tôn Thất Thuyết không thể làm ngơ. Ông phải chuẩn bị quân binh và không thể không nói cho chúng biết, không phải chúng muốn làm gì thì làm. Tướng Du (?)và những tên viễn chinh đi theo tàu ấy hiện vẫn đồn trú tại Hải Dương. Đến nay, tên tướng Du (?) này lại cùng Dujardin (La Đăng) đều gửi thư hoặc tỏ ý bằng lời, bảo rằng chúng rất nghi kị Tôn Thất Thuyết, một khi Tôn Thất Thuyết còn chỉ huy các quân thứ đóng ở Bắc Ninh. Chúng sợ sẽ bị Tôn Thất Thuyết bất ngờ tấn công. Do đó, mắc mứu ấy phải được giải minh cho rõ, mặc dù giải minh một cách ngoại giao! Quan Thương bạc đã phải trả lời cho Phủ suý Pháp tại Gia Định về mắc mứu, thực chất là cái gờm nhau ấy (68).&lt;br /&gt;      “Hoà” ước, thương ước ư? Thật ra Pháp vẫn giết hại những ai đã từng chống đánh chúng, nếu chúng có thể bắt được và giết được. Nguyễn Hữu Huân (69), một cử nhân thủ khoa người Định Tường, ra vùng tị địa ở Bình Thuận, trước đây mộ quân đánh Pháp. Pháp bắt dược, lưu đày ra nước ngoài (đảo Réunion), lại phóng thích cho về. Khi về lại Đất nước, thủ khoa Huân lại kết nghĩa đồng chí với cử nhân Âu Dương Lân (69), người đồng tỉnh Định Tường, cùng kẻ sĩ văn thân lục tỉnh Nam Kì, trong đó có một số người nước Thanh (Hoa kiều). Cả thảy khoảng ba ngàn (3.000) nghĩa sĩ (69). Nhiều cuộc tấn kích vào chính bọn Pháp đã được tiến hành, đạt nhiều thắng lợi. Những nghĩa sĩ ấy chiến đấu ngay cả trong những năm gần đây (1872 – 1874). Đến nay, trong những ngày tháng tư Ất hợi (1875) này, Pháp bắt được, đã tử hình hai ông cùng hơn trăm người thủ lĩnh nghĩa quân ở Mỹ Tho (Định Tường). Có người bảo Nguyễn Hữu Huân đã cắn lưỡi tử tiết trên pháp trường (70).&lt;br /&gt;      Quốc sử quán triều Nguyễn chỉ còn biết ghi tên hai ông với sự hi sinh của hơn một trăm liệt sĩ khác, cùng công trạng của ba ngàn nghĩa quân cho nghìn thu ca ngợi, tôn vinh! Lịch sử mãi mãi ca ngợi, tôn vinh ý chí chiến đấu chống ngoại xâm, cho dẫu chiến đấu trong tuyệt vọng.&lt;br /&gt;      Chính những trận tấn công như thế vào chính binh tướng Pháp viễn chinh, cố đạo Pháp viễn chinh, vốn đã làm bọn thực dân Pháp rúng động, sợ hãi, cũng là một cách chiến để đàm, mặc dù có thể không có một mật ước, mật dụ nào cho các anh hùng, nghĩa sĩ.&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;      9&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Những ngày hạ tuần tháng sáu, thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường, thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản được sung chức đọc quyển trong kì thi phúc hạch cử nhân trúng cách (thi hội và thi đình) (71). Đó là hai giám khảo chính. Ngoài ra, tả thị lang Bộ Lại Trần Văn Chuẩn, hồng lô tự khanh sung làm việc ở Nội các Bùi Ân Niên (Bùi Dị) được sung vào chức duyệt quyển (chấm lại những quyển bài thi đã được lấy đỗ) (71).&lt;br /&gt;      Trong bốn kì thi hội và một kì thi phúc hạch cuối cùng, gọi là thi đình, khoá Ất hợi này, có những đề thi rất sát với thời sự. Kì thi đình do chính vua Tự Đức sát hạch các sĩ tử, để chọn thám hoa, bảng nhãn (không có lệ lấy trạng nguyên!). Chính bài chế sách của nhà vua nổi tiếng uyên bác cổ văn là Tự Đức, cũng hướng tới việc canh tân Đất nước theo &lt;em&gt; “Tây học vi dụng, Đông học vi thể” &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường là người đã từ lâu đề xuất việc cải cách thuế ruộng ở Đàng Ngoài, nhất là ở Bắc Kì, trong các phiên họp Viện Cơ mật – Thương bạc. Những ý tưởng này hình thành từ những năm còn làm tri huyện, phủ doãn (72) và nhất là những năm tiễu phỉ ở phía bắc Đất nước. Việc thống nhất hai miền, Đàng Trong và Đàng Ngoài, về mặt hành chính, vốn đã được thực thi từ thời Quang Trung, và rõ rệt nhất là dưới thời Gia Long, rồi trải qua ba triều kế tục, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Tuy nhiên, thực trạng kinh tế (gồm cả tài chính) vẫn có những khác biệt lưu cữu. Đến năm Tự Đức thứ hai mươi tám, Ất hợi (1875), trước kiến nghị cải cách về thuế ruộng công, ruộng tư Nam – Bắc để thống nhất về thuế vụ trong cả nước nhà vua hơi dè dặt. Nội dung cốt lõi của cải cách này là, giảm thuế ruộng công, tăng thuế ruộng tư, nghĩa là nghiêng về phía ưu đãi cho người nghèo (tá điền, cố nông) thiếu ruộng công để cày cấy. Thực chất đó cũng là một cách ổn định tình hình chính trị – xã hội, cụ thể là giảm bớt bao nông nỗi đau lòng, như sự loạn lạc, xiêu tán của nông dân, do đói kém, thiếu ruộng để canh tác. Trước khi ban hành chủ trương ấy, trong kì thi hội, thi đình này, một đề thi đã được ra cho các cử nhân sắp sửa là phó bảng, tiến sĩ, như một cách thăm dò, tham khảo và cũng là cách tuyển chọn. Đó là đề thi kì thứ hai, cho những sĩ tử đã đỗ kì thi thứ nhất: &lt;em&gt; “Nghĩ kim linh Bắc Kì quân điền phú chiếu” (nghĩ làm bài chiếu nay khiến Bắc Kì chia đều thuế ruộng) (73) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;     Chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng sau, chính Nguyễn Văn Tường đã được chuẩn cho để thực hiện chủ trương này, trên cương vị mới là thượng thư Bộ Hộ (74). Và suốt nhiều năm sau đó ông vẫn tiếp tục đấu tranh với các cường hào ác bá và các quan tỉnh để thực hiện.&lt;br /&gt;     Trong kì thi hội và thi đình này, ngoài ra, còn có những đề thi khác rất thời sự, cùng những đề về kiến thức và thái độ, nhân cách, đạo đức kẻ sĩ (73):&lt;br /&gt;&lt;em&gt;1. “Như hà tư khả vị sĩ hĩ” (thế nào gọi là kẻ sĩ).&lt;br /&gt;2. “Lai bách công dã, nhu viễn nhân dã” (gọi trăm quan lại, ôn hoà với người phương xa [:người nước ngoài]).&lt;br /&gt;3. “Tứ giao đa luỹ, thử khanh đại phu chi nhục dã, địa quảng đại hoang nhi bất trị, thử diệc sĩ chi nhục dã” (bốn cõi nhiều hào luỹ là nhục của các quan khanh và đại phu, đất rộng bỏ hoang nhiều mà không dùng cũng là nhục của kẻ sĩ vậy).&lt;br /&gt;4. “Nghĩ giảng hoàn tứ tỉnh thần dân hạ biểu” (nghĩ làm bài biểu thần dân mừng về việc trả lại bốn tỉnh).&lt;br /&gt;5. “Ngự nhung vô thượng sách” (bài luận về câu “chống giặc không có kế sách nào hay nhất”).&lt;br /&gt;6. “Phú đắc bất tham vi bảo thi” (bài thơ theo câu “Giàu [?]lại được thêm mà không tham là báu”, lấy vần “tham”).&lt;br /&gt;7. “Phú sứ lai triều tu hảo hợp lễ phú” (làm bài phú nói sứ thần nước Pháp đến triều để tu sửa sự giao hảo [:quan hệ ngoại giao tốt đẹp] cho hợp lễ [đạo thường]). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;8.&lt;/em&gt; Trích chế sách kì thi đình của vua Tự Đức: &lt;em&gt; “Vả sao gần đây càng suy tôn phương pháp của Phương Tây? Vậy phương pháp ấy có quả thấy xác thực hơn hẳn cổ nhân, hay cũng chỉ là một loại ồ ạt nói liều mà thôi? […].Thậm chí các việc dẫn điện, thu lôi, chế hơi để dùng, các sự quái dị ấy, cơ hồ đoạt được quyền tạo hoá, thì làm sao nà tiến được đến như thế? […]. Hoặc là muốn biến đổi tất cả văn hiến từ ngàn năm, mới có thể làm nên phú cường được? Có phải thế chăng? Tất là có thể thừa biện được? Hoặc là theo như  nước Nhật Bản cấp thiết về công việc gần trước mắt mà bắt chước được không? Xưa kia có người biến đổi quần áo rợ Hồ [phía tây bắc Trung Hoa] mà được hưng thịnh, có người vất bỏ phong tục rợ Hồ mà bị suy vong. Hai đằng khác nhau. Vậy biết lấy gì làm chuẩn đích? Những điều này là trẫm đều muốn tìm hiểu và muốn được nghe biết vậy” (73) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Hai giám khảo chính là Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tư Giản đã cẩn trọng, cân nhắc rất kĩ khi chấm các quyển bài thi, để chọn những người xứng đáng được chọn vào các thứ hạng trúng tuyển. Hai giám khảo khác, Trần Văn Chuẩn và Bùi Ân Niên, đã duyệt lại các quyển. Kết quả: mười một (11) tiến sĩ, đồng tiến sĩ xuất thân (có thứ bậc); sáu (06) phó bảng (71).&lt;br /&gt;++ Tiến sĩ: Phạm Như Xương (Quảng Nam), Nguyễn Hữu Chính (Chánh, Nghệ An).&lt;br /&gt;++ Đồng tiến sĩ: Đinh Nho Điển, Đinh Văn Chất (Nghệ An), Phan Du, Hoàng Hữu Thường, Tống Duy Tân (Thanh Hoá), Lê Duy Thụy, Vũ Hữu Lợi (Nam Định), Trần [Văn] Dư (Rư, Quảng Nam), Cao [Đăng] Đệ.&lt;br /&gt;++ Phó bảng: Lê [Đăng] Trinh (Quảng Trị), Hồ Bá Ôn (Nghệ An), Đỗ Thiện Kế, Phạm Xuân, Đỗ Huy Điển, Tạ Thúc Đĩnh (71).&lt;br /&gt;      Phạm Như Xương, Nguyễn Hữu Chính, Đinh Nho Điển, Phan Du nguyên là hạng thứ trúng cách trong bốn kì thi, được gia ân cho vào thi đình. Nhưng ở kì thi đình, họ lại vượt lên, hầu như chiếm đầu bảng. Chen vào giữa hai đồng tiến sĩ dẫn dầu danh sách này chỉ có mỗi một Đinh Văn Chất.&lt;br /&gt;      Có một điều rất đáng lưu ý để suy nghĩ: trong mười bảy vị được trúng tuyển kì thi hội và thi đình này, về sau, có đến bảy vị là anh hùng, liệt sĩ (75).&lt;br /&gt;      Sau khi niêm yết bảng kết quả, đầu tháng sáu nguyệt lịch, thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường liền được đổi bổ làm thượng thư Bộ Hộ, vẫn sung đại thần Viện Cơ mật, kiêm quản lí công việc Nha Thương bạc (Nha Ngoại giao và Ngoại thương) (74). Thượng thư Bộ Hộ Trần Bình chuyển công tác sang Bộ Hình, kiêm quản cả Bộ Công giúp cho Phạm Ý (ông đang được phép về quê cư tang ba tháng) (74).&lt;br /&gt;      Đó là một sự sắp xếp lại nhân sự rất xứng hợp. Thượng thư Nguyễn Văn Tường rất vui mừng vì ông sẽ kiên quyết thực hiện cho bằng được kế sách mới về thuế ruộng đất Đàng Trong – Đàng Ngoài để thực sự thống nhất Đất nước về chiều sâu và thêm một bước lo toan cho nông dân nghèo khó, thiếu đất cày, bị địa chủ bóc lột, phải lưu ly xiêu tán.&lt;br /&gt;      Sau những công việc bình thường nhưng không phải không quan trọng ở những ngày tiếp theo, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại quay trở lại với chủ trương ông rất tâm huyết từ lâu là cải cách thuế ruộng công, ruộng tư bằng nhau trên khắp Đàng Trong, Đàng Ngoài ấy. Trong khi chuẩn bị và chờ một thời điểm gần nhất để công bố văn bản, ông cùng các quan trong bộ mới nhậm chức, các quan Viện – Bạc và các quan ở Bộ Công bàn việc định lệ phái tàu thuyền đến các nước phương xa với mục đích mua bán, lấy thu bù chi, đồng thời chú ý thăm xét, tìm hiểu tình hình ở các nước đó, nhất là việc các nước Âu Mỹ (Phương Tây) đang hội họp với nhau (76) ở nhượng địa Hương Cảng… Đó là một việc thường xuyên trước đây, nhưng lâu nay tất cả sức lực đều chỉ giải quyết tình thế trong nước, nên bỏ bẵng. Một việc khác thuộc Bộ Hộ là bắt đầu thu lại thuế thiếc, một loại hàng hoá khoáng sản được khai thác từ các mỏ ở Vân Nam (Trung Quốc), trước đây thường xuôi thuyền về Hà Nội trên tuyến sông Hồng để lại chở sang Quảng Đông, với mức thuế thường niên lên đến bảy vạn ba ngàn (73.000) quan (77). Đó là tuyến đường vốn từ lâu đã có, gần đây Jean Dupuis cố khai thác và xem như một phát hiện mới! Và việc bình thường nhưng quan hệ đến mức sống nông dân là nạn sâu bọ ở Hải Dương. Phạm Phú Thứ tâu về Bộ Hộ, Bộ Hộ tâu lên vua, nhà vua quở trách các quan lớn nhỏ ở tỉnh ấy không tự chủ động giải quyết nổi nạn thường gặp ấy, với thói tật và ngôn từ quân phụ (vua cha) – thần tử (tôi con) rất hoàng đế của mình (78)! Một sự kiện khác, tuy nhỏ nhưng có tính chất chính trị – ngoại giao lớn, đó là việc khâm sứ Pháp đến Huế (79). Nhưng sự lệ đón tiếp đã có Bộ Lễ (79) của thượng thư Lê Bá Thận đảm trách.&lt;br /&gt;      Sau những vụ việc bình thường nhưng không thể xem là không quan trọng ấy, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường được chuẩn y để công bố chủ trương cải cách thuế ruộng công, ruộng tư bằng nhau trên khắp Đàng Trong, Đàng Ngoài (80): &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Cho thuế ruộng công, tư, từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, chiểu theo thuế lệ từ Quảng Bình trở vào Nam, bắt đầu từ năm sau.&lt;br /&gt;      [Trước đây, từ] Quảng Bình trở vào Nam, ruộng công [, ruộng] tư mỗi mẫu hạng nhất: [lấy thuế là] bốn mươi (40) thưng thóc, hạng nhì: ba mươi (30) thưng, hạng ba: hai mươi (20) thưng. Mà [trong khi đó, từ] Hà Tĩnh trở ra Bắc, ruộng công hạng nhất: thóc thuế tám mươi (80) thưng, hạng nhì: năm mươi sáu (56) thưng, hạng ba: ba mươi ba (33) thưng, [và] ruộng tư  hạng nhất: hai mươi sáu (26) thưng, hạng nhì hai mươi (20) thưng, hạng ba: mươi ba (13) thưng.&lt;br /&gt;      [Như vậy, qua sự so sánh, thấy rõ: thực trạng mức thuế ruộng công, ruộng tư chênh lệch nhau ở Đàng Ngoài, từ sông Gianh trở ra,] so với [mức thuế ruộng công, ruộng tư đều nhau ở Đàng Trong, từ sông Gianh] trở vào Nam [, thì ở Đàng Ngoài] ruộng công rất nặng [thuế], ruộng tư rất nhẹ [thuế]. [Do đó] cho nên [cần phải] cho đều nhau [về thuế]” (80) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Tất nhiên, kích thước để tính đơn vị đất ruộng cũng phải thống nhất (sào, mẫu đất ruộng Bắc Bộ đương nhiên phải không khác sào, mẫu Trung Bộ).&lt;br /&gt;      Đó chính là chủ trương cải cách thuế ruộng để thống nhất Đất nước về chiều sâu,  ấy là về nền tảng cơ bản nhất của xã hội nước ta, một xã hội trọng nông, xưa đến bấy giờ đều khẳng định “nông vi bản”. Chính chủ trương được công bố trong những ngày đầu tháng bảy năm Ất hợi (1875) là một trong những đề thi hội vào cuối tháng sáu nguyệt lịch trước đó. Thăm dò ý kiến sĩ tử ưu tú nhất, thấy họ đều biểu đồng tình với cách luận giải riêng rẽ nhưng đều vẫn chung nhất, ngay lập tức thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường được chuẩn cho chuyển đổi sang làm thượng thư Bộ Hộ, để thực hiện một chủ trương ông từng ấp ủ nhiều năm.&lt;br /&gt;      Và từ khi chủ trương này được thực thi, trong một vài vụ mùa sau, người ta nghe trên những cánh đồng, dưới bao mái nhà nông thôn vang lên tiếng hát ca dao, chê trách một cách sắc ngọt những “bà” địa chủ, những “ông” phú nông bóp nặn bao tá điền, bao nông dân không còn một tấc đất cắm dùi:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt; “Từ nay tôi cạch đến già&lt;br /&gt;Tôi không dám cấy ruộng bà nữa đâu&lt;br /&gt;Ruộng bà vừa xấu vừa sâu&lt;br /&gt;Vừa bé hạt thóc vừa lâu đồng tiền&lt;br /&gt;Tôi về cấy ruộng công điền&lt;br /&gt;Hạt thóc đã lớn, quan tiền trao tay”. &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Nhưng rất tiếc, mặc dù không phải không đúng, khi xảy ra việc người bạn đồng triều của thượng thư Nguyễn Văn Tường cũng là giám khảo của cuộc thi hội, thi đình lần này lại gặp phải một sự cố, đành phải lạc chức. Nguyễn Tư Giản, đang là thượng thư Bộ Lại, bị biện lí Tôn Thất Phan tâu hặc (81): Chính quan Bộ Lại Nguyễn Tư Giản đã kí tên vào tờ đơn đóng ấn giả mạo, nộp ở Bộ Lại, cùng với chữ kí tham tri Nguyễn Văn Thuý, thị lang Nguyễn Mậu Đạo! Tờ đơn ấy lại là của tên xảo trá Phan Văn Nhã, một học trò của Nguyễn Tư Giản! Ti Tam pháp cùng Nội các xét xử. Cả ba viên quan cùng Bộ đều bị giáng, cách. Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản bị vua Tự Đức phê phán: &lt;em&gt; “Tư Giản thiên tư [:thiên vị], dong túng, rất phụ lòng tin yêu của trẫm, phải cách chức ngay, chuẩn cho đến miền núi mộ dân khẩn hoang, làm việc chuộc tội” (81) &lt;/em&gt;. Thượng thư Bộ Lễ Lê Bá Thận được phân công kiêm quản chức trách Nguyễn Tư Giản mới rơi khỏi (81). Đó là một vụ việc rất đáng tiếc nhưng không phải không đúng! Biết làm thế nào được! Phải “thượng tôn luật pháp”.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường đành tiễn chân Nguyễn Tư Giản ra Sơn phòng Chương Đức (huyện Ứng Hoà, huyện Mỹ Đức) thuộc tỉnh Hà Nội (82), với lời hi vọng vào một ngày sớm nhất ông ấy lại về triều, để tiếp tục ủng hộ Nguyễn Văn Tường trong việc thực hiện chủ trương rất tâm huyết, ấy là cải cách thuế đất ruộng: thuế ruộng công bằng thuế ruộng tư, trên khắp Đàng Trong, Đàng Ngoài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      10&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Nha Thương bạc nhận được liên tiếp hai văn thư của Phủ suý Pháp tại Gia Định do tên tướng Duperré viết và kí tên, đóng dấu. Một văn thư về việc hỗ giao thương ước Giáp tuất (83). Một văn thư khác, với nội dung phê phán tổng lí thương chính đại thần Phạm Phú Thứ: &lt;em&gt; “Viên ấy không có lòng tốt” (84) &lt;/em&gt;! Việc tiến hành lễ hỗ giao thương ước, vào giữa tháng bảy nguyệt lịch, năm Ất hợi (26.8.1875), được tiến hành rất giản dị tại dinh Nha Thương bạc. Như vậy cũng tiện cho Pháp và cả cho nước ta. Đầu tháng tám, Phạm Phú Thứ lại dâng sớ xin từ chức, về triều! Hoá ra, Duperré cũng đã trực tiếp gửi bản văn thư ra Hải Dương cho ông! Vua Tự Đức ra dụ, bảo Phạm Phú Thứ phải cố lưu lại, hết sức nỗ lực giao hảo và làm việc cho xứng đáng với chức trách giao phó (84).&lt;br /&gt;      Mặc dù đã hỗ giao “hoà” ước lẫn thương ước Giáp tuất, Pháp vẫn muốn lấn ép triều đình nước ta trong việc bố trí quan chức cấp cao để chúng có thể thao túng về thương chính. Đối với thượng thư Nguyễn Văn Tường, chúng càng quyết dùng thủ đoạn để triệt hạ ông. Không những Nguyễn Văn Tường, Phạm Phú Thứ mà một vài viên quan đầu tỉnh khác cũng thế, như tuần vũ Thuận – Khánh Lê Đình Tuấn, chẳng hạn. Bọn Phủ suý Pháp cho rằng Lê Đình Tuấn và điển nông sứ Phan Trung, qua một người Hoa là Trần Khai Kim, vẫn còn ngầm hỗ trợ quân khởi nghĩa của Thủ khoa Huân (văn thân lục tỉnh vốn liên kết với nhóm &lt;em&gt; “người Thanh tóc dài” &lt;/em&gt;) ở Nam Kì (85).&lt;br /&gt;      Rõ ràng tâm địa của bọn Pháp là không bao giờ có thiện chí. Và triều đình cùng các quan ta cũng không bao giờ nguôi quên kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm là Pháp, trong đó “tả đạo” Pháp là một lực lượng của chúng. Điều đó không một ai ngây thơ để không biết. Ngay cả vua Tự Đức, một người cơ hồ như luôn nuôi ảo tưởng về thiện chí của Pháp trong một số sắc dụ, cũng không phải không nhận ra, có điều nhà vua không tiện nói thẳng, ngại chính mình cũng “thiếu tình hữu hảo (!)”, gây khích biến với Pháp.&lt;br /&gt;      Tình hình như thế, không thể khác hơn, nên triều đình và các quan phải “hai mặt” (bề ngoài vẫn làm ra vẻ “hữu nghị”, bên trong phải luôn chống cự thủ đoạn xâm lược “tàm thực”, tằm ăm lá dâu của Pháp) để đối phó với chúng. Từ  tình hình đó, vua Tự Đức cho rằng từ nay, phải chú trọng việc tối cẩn mật (86): Những tờ mật tâu của các quan, kể cả đình thần, đều phải do Viện Cơ mật lưu trữ bản gốc, sau khi Viện đã lược ghi một cách tóm tắt vào phiếu tâu. Ngay cả đình thần hoặc Nội các khi gặp việc đúng chức năng, cần xét nghĩ, làm phiếu tâu, cũng phải đến tại Viện Cơ mật để nghiên cứu tại chỗ. Lệ này được định lại khác với trước. Trước đây, những tập tâu mật rất quan trọng này, có khi chỉ được lược ghi, xét nghĩ và lưu trữ bởi Nội các, không nhất định gì cả. Phải định lại lệ bảo mật như vậy (86).&lt;br /&gt;      Có lẽ hai tập sớ, tấu của Nguyễn Chính và Trương Quang Đản là đầu tiên theo lệ mới định lại. Tập sớ của tổng đốc An – Tĩnh Nguyễn Chính trình bày về số lượng nhà dân trong &lt;em&gt;cuộc nội chiến lương – giáo Giáp tuất 1874&lt;/em&gt; bị thiêu sát (đốt, giết) là khủng khiếp: chín ngàn lẻ năm mươi (9.050) hộ; các hộ dân ấy xin chiểu lệ hoả hoạn cứu giúp, miễn thuế, cho khỏi trả thóc vay (87)… Tập tâu của Trương Quang Đản về việc tổ chức lại, tăng cường thêm về hệ thống sơn phòng khắp nước &lt;em&gt; “tuy nói rằng để vững bờ cõi ta, thực để phòng bị mối lo không ngờ” (88) &lt;/em&gt;, đó là sự tấn công của Pháp.&lt;br /&gt;      Và như thế, đâu phải “hoà” là để thúc thủ, đầu hàng từng bước. “Hoà” là để thủ, thủ là phải chấn chỉnh binh lực, cải cách nội trị, và để canh tân công nghệ. Tuy nhiên, cả đình thần không ai không biết về thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành, đến lúc này, ông ta lại trễ nãi việc luyện binh (89). Vua Tự Đức trách Bộ Binh của ông ta:&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Hiện nay việc binh là rất trọng yếu, mà súng ống lại là đồ dùng cho việc binh trước nhất. Nên trước hết phải luyện tập cho đều tinh thạo, khi cần đến mới mong được việc. Nếu có sai phái [đi đến các nơi], cũng liệu để lại [để] học tập, đâu có thể uỷ cho việc nhiều mà bổ [đi], không luyện tập được” (89) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Trong tình hình cuộc chiến ngoại giao, thương mại đã bước đầu khởi sự, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường phải tâu xin định lại thật chặt chẽ điều lệ biên thu thuế quan (90) trên mặt trận thương chính, đồng thời chuẩn bị công bố vào tháng chín sắp tới về định lệ tâu báo theo kì hạn nhất định cho Nha Thương chính (90):&lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “Mỗi tháng thuyền hạng nào xuất nhập bao nhiêu, thu thuế bao nhiêu, đến cuối tháng làm bản tư về Bộ [Hộ, để Bộ Hộ] trình lên [nhà vua] xem. Cả năm làm bản tâu một lần. Còn tình trạng đình hay báo, kiểm thu, phát mại, khó hay dễ, thường hay phức tạp, [phải] xét cho thực, không ẩn giấu. Từ sau, Hà Nội, Bình Định [nơi có cửa biển Thi Nại] cũng theo thế” (90) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Đó cũng là cách để nắm chắc tình hình ở các sở thương chính, nơi cả bọn Pháp lẫn quan ta cùng đối tác, làm việc theo theo thương ước Giáp tuất 1874.&lt;br /&gt;      Và để khích lệ việc canh tân, thành lập các cơ xưởng, tăng gia sản xuất các mặt hàng dệt, nhuộm như nhung vải ở Hà Nội, các mặt hàng cơ khí như xe, thuyền, đồng hồ, các sản phẩm công cụ cho nghề nghiệp (cày, khung dệt…), cả súng ống và các loại khí giới khác ở các tỉnh trong nước, Bộ Hộ của thượng thư Nguyễn Văn Tường đã tâu bày để có những lệ định được chuẩn và có các sắc dụ ban ra:&lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “… Khuyên bảo dân xã Sam Cầu, người nào tinh xảo thì tạm cấp cho tòng cửu phẩm, hộ trưởng thì mộ dân lập hộ. Trong một năm dệt được tốt đẹp, hộ trưởng được thưởng thụ tòng cửu phẩm, hộ phu được miễn binh đao, thuế thân. Cả năm mỗi tên nộp thay [thuế] bốn (04) thước [ta] nhung sợi” (91).&lt;br /&gt;     “Lập xưởng thợ làm thành đồ, là để có lợi cho cả nước. Nước ta đồ dùng đều có thể làm được, nếu biết hết lòng tìm tòi, nhân xấu đến tốt, thì lo gì nghề nghiệp không mở rộng mà cam chịu kém người… Phàm việc gì ích quốc lợi dân thì khuyên bảo sĩ dân trong hạt hết lòng suy nghĩ, không chỉ các nghề dệt nhuộm, nung đúc mà thôi. Phàm máy móc như xe, thuyền, súng, khí giới, đồng hồ, cho đến các đồ dùng về cày, dệt, có thể bớt được sức người mà dùng được tiện lợi, thì hết thảy phải khuyên bảo người khéo. Có người có tài năng thì đều đem tâu lên, không cứ hạng người nào. Nếu muốn thân hiển vinh để tiếng về sau, tính nghề gì thạo có thể giúp ích cho thực dụng, đều cho không ẩn giấu; đợi lại xét thực thêm, tuỳ được ích lợi nhiều hay ít, [triều đình sẽ] liệu thưởng cho chức quan, để biết được khuyến khích…” (91).&lt;br /&gt;      “… Từ sau, phàm các tỉnh có tỉnh liên quan đến việc buôn [:thương mại] và các việc giao thiệp [:ngoại giao] mà là khẩn cấp, thì trừ việc rất trọng đại quan ngại, tâu ngay đợi chỉ ra, còn thì chuẩn cho được cùng lòng dựng nước, châm chước tuỳ theo tình thế, đều chiểu theo ước cũ trước, tuân theo ý chỉ, làm cho thoả đáng, cốt phải trong yên, ngoài tin, rất có lợi ích. Một mặt làm ngay cho kịp việc, một mặt tâu gấp để biết…” (92) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Trong các lĩnh vực quốc kế dân sinh thuộc Bộ Hộ và ngoại giao thuộc Nha Thương bạc, rõ ràng thượng thư Nguyễn Văn Tường đã tham mưu, tư vấn cho nhà vua, người ở địa vị tập quyền cao nhất, bằng những phiếu tâu trên cơ sở những tấu, sớ các địa phương gửi về với những kiến giải, đề xuất của bản thân. Tất cả đều được bàn luận ở Viện – Bạc và ở những buổi thiết triều bàn việc nước, trước khi trở thành định lệ và sắc dụ.&lt;br /&gt;     Có những điều rất mới mẻ so với trước. Đó là ý thức tự hào không chịu thua kém nước người trong sản xuất. Đó là quan niệm cũng là hướng mở trong việc lập thân (lập đức, lập công, lập ngôn) bằng các nghề thực nghiệp chứ không chỉ tu hành đắc đạo, làm việc thiện tận tâm, tận lực, thành công hiển hách trong chiến trận hoặc trên chính trường, hoặc ở sự nghiệp văn sử từ chương. Quan niệm về con đường tiến thân của kẻ sĩ, nhân dân không chỉ là khoa cử độc đạo.&lt;br /&gt;      Có một điều là triều đình vẫn duy trì “hoà” ước Nhâm tuất 1862, nếu các quan tự chủ động giải quyết, ứng xử trước tình huống cấp thời, nhưng không quan trọng, khi chưa kịp tâu báo và chưa có sắc dụ chỉ đạo cụ thể.&lt;br /&gt;      Nhìn chung là tình hình ít lâu sau khi “hoà” ước, thương ước đã được hỗ giao với sự phê chuẩn của hoàng đế Đại Nam và tổng thống toàn quốc Cộng hoà Pháp là thế. Đó là sự lấn ép của Pháp qua việc chúng yêu sách thay đổi quan chức. Đó là việc triều đình mở rộng quy mô sơn phòng trên toàn quốc (trong sự trễ nãi của Trần Tiễn Thành). Đó là việc triển khai đối sách trong cuộc chiến không tiếng súng, về ngoại thương và ngoại giao. Cuộc chiến ngoại thương và ngoại giao? Hình thái ấy là một loại hình chiến tranh chưa từng có trước đó. Không phải cường điệu mà đấy là sự thực.&lt;br /&gt;      Nhưng lại nổi bật lên là nguồn tin về tên giặc Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh đã bị bắt sống bởi quan quân quân thứ Tuyên Quang, với sự hỗ trợ của quân nhà Thanh do Triệu Ốc chỉ huy (93). Hoàng Anh là một trong vài tên tướng giặc Cờ gian giảo và hung ác nhất. Y liền bị xử lăng trì bêu đầu, đóng hòm thủ cấp chuyển giao đến các tỉnh (93). Tuy vậy, tình hình phỉ ở biên giới bắc vẫn chưa phải đã thanh toán hết!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hết tệp 11 &lt;br /&gt;(phân đoạn 3 truyện kí thứ 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khởi viết truyện kí thứ tám này&lt;br /&gt;vào lúc khoảng 07 giờ sáng,&lt;br /&gt;ngày 17.11.2002 (13.10 Nh. ngọ, HB.2).&lt;br /&gt;Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 8 lúc 16 giờ kém 10 phút,&lt;br /&gt;ngày 30.11.2002 (24.10 Nh. ngọ, HB.2).&lt;br /&gt;Sữa chữa xong vào lúc 15 giờ 24 phút,&lt;br /&gt;ngày 04.12.2002 (01.11 Nh. ngọ, HB.2). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;            &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(60) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 60.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(61) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 61.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(62) Nhiều tác giả, Từ điển văn học (TĐVH.), tập 2, Nxb. KHXH., 1984, tr. 49: quê quán Nguyễn Bỉnh Khiêm là làng Trung Am, Vĩnh Lại, Hải Dương (nay là Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng). Theo chúng tôi, không ai khác, chính Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên có ý tưởng chia cắt Đất nước ra làm ba: Cao Bằng thuộc hậu duệ nhà Mạc, Đàng Ngoài thuộc vua Lê chúa Trịnh, Đàng Trong thuộc chúa Nguyễn. Xin khẳng định như thế, nếu giai thoại về “sấm kí Trạng Trình” là đúng với sự thật đã xảy ra trong cuộc đời Trạng Trình. Hoặc, gạt đi những huyền thoại thêu dệt, thì sấm kí tiên tri Trạng Trình không thể giải thích cách nào khác, nếu không xem đó là nhận thức chính trị có tính dự kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trên cơ sở tình huống hiện thực lịch sử khách quan, và ông cũng phát biểu một cách khách quan, không có ý tưởng khuyến khích việc chia cắt Đất nước, khởi đầu của bi kịch Sông Gianh và hậu quả thảm khốc trong thời Tự Đức…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(63) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 196, 198 – 199.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(64) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 198.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(65) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 208.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(66) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 202.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(67) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 207.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(68) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 208.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(69) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 203.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(70) Nguyễn Bá Thế và Nguyễn Q. Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (TĐNVLSVN.), bản in lần thứ 5, Nxb. Văn Hoá – Thông Tin, 1999, tr. 13, 551 – 552.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(71) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 208 – 209.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(72) ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 186 – 188.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(73) Tự Đức, Tự Đức thánh chế văn tam tập, tái bản với tên sách: Thơ văn Tự Đức (TVTĐ.), tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1996, tr. 372 – 380.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(74) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 221.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(75) Những chữ ghi tên họ in nghiêng có gạch dưới, hoặc in đậm. Phạm Như Xương có tham gia khởi nghĩa Cần Vương (1885) và không được tin dùng dưới ngụy triều Đồng Khánh (ngụy vương đầu tiên của triều Nguyễn, do Pháp dựng lên).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(76) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 213.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(77) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 217.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(78) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 218.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(79) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 214.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(80) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 220.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(81) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 220 – 221.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(82) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 251.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(83) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 222.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(84) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 224.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(85) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 236 – 237.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(86) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 222 – 223.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(87) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 222.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(88) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 226 – 227.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(89) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 224.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(90) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 223 – 224.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(91) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 230 – 231.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(92) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 231.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(93) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 225 – 226.&lt;br /&gt;                            &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Soạn xong phần chú thích&lt;br /&gt;vào lúc 19 giờ 24 phút,&lt;br /&gt;ngày 06.12. 2002 (03.11 Nh. ngọ HB.2). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HẾT TỆP 11 &lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 3 TRUYỆN KÍ THỨ 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin xem tiếp TỆP 12&lt;br /&gt;(phân đoạn 4 truyện kí thứ 8)&lt;br /&gt;thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/19823518-113472664873277738?l=tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/feeds/113472664873277738/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=19823518&amp;postID=113472664873277738' title='2 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113472664873277738'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113472664873277738'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/2005/12/ph-chnh-i-thn-nguyn-vn-tng-tp-ii-b-11.html' title='PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 11)'/><author><name>Phan Huyên Đình (Trần Xuân An)</name><uri>http://www.blogger.com/profile/04366565891846379473</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='21' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger/3234/1819/1600/A%203.1.jpg'/></author><thr:total>2</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-19823518.post-113472456265097767</id><published>2005-12-16T00:36:00.000-08:00</published><updated>2005-12-16T01:20:03.783-08:00</updated><title type='text'>PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 10)</title><content type='html'>Tệp 10 - Tập II  Blog B&lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 2, TRUYỆN KÍ THỨ 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sẽ đăng trên &lt;strong&gt;Tạp chí điện tử Giao Điểm&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;số tháng 12-2005&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm"&gt; http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CUỘC CHIẾN NGOẠI GIAO&lt;br /&gt;VÀ NGOẠI THƯƠNG&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Truyện kí thứ tám&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;(phân đoạn 2)                        &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      4&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Thơ BÁ TƯỚC KÌ VĨ NGUYỄN VĂN TƯỜNG&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Nguyên đán tảo cứ Quảng Yên tuần phủ Hồ Trọng Liễn mã đệ triệp tự quan binh đạp bình Phù Long phỉ sào, nhân chí kì sự&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;            &lt;em&gt;1. Ngã hoàng phủ thử chước khoan nghiêm&lt;br /&gt;     Thiên đạo âm dương hỗ hiển tiềm&lt;br /&gt;     Hàn uy phủ khước đông tiền lạp&lt;br /&gt;     Xuân dương dĩ phổ đồng nhân chiêm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;         5. Lí đoan vạn tượng chính tân sảng&lt;br /&gt;     Si mị tận tiêu thiên nhật lãng&lt;br /&gt;        Đình liệt bái khánh sâm y quan&lt;br /&gt;     Thúc văn tiệp tấu bình tặc đảng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tu lai mã đệ Quảng Yên đồng&lt;br /&gt;        10. Hỉ kiến biên thần tự chiến công&lt;br /&gt;     Ngưỡng duy miếu đường thụ thành toán&lt;br /&gt;     Kháp trị thái vận phương hưởng thông&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Ngã quốc hải đông dữ Thanh tiếp&lt;br /&gt;     Nhất đới cát đồ liên u chung&lt;br /&gt;        15. Thanh lại kế cùng lân vi hác&lt;br /&gt;     Trì ngư vô đoan tao bỉ hung&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Thanh tướng lưỡng lâm vô thốn hiệu&lt;br /&gt;     Đạn nan chung thị di khấu sao&lt;br /&gt;     Kình nguyệt thố quật một gian xuất&lt;br /&gt;        20. Niên lai biên manh khổ náo sao&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;                   Thuấn đức đản phu giác giã mê&lt;br /&gt;     Tự tây tự đông ngật (cật) thanh giáo&lt;br /&gt;     Tranh nại động đình chướng kí thâm&lt;br /&gt;     Nan cách nhĩ tâm dịch nhĩ mạo&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        25. Chu sư ninh hoãn tiêm cừ khôi&lt;br /&gt;     Phù Long nhất cổ thiên hiểm thôi&lt;br /&gt;     Tướng biền dụng mệnh vô kiên địch&lt;br /&gt;     Thanh linh hách trạc võ công khôi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Kỉ công hựu thích hành khánh điển&lt;br /&gt;        30. Phàm bách nhung thần thị chi miễn&lt;br /&gt;     Thùy vị ba đào bất khả khai&lt;br /&gt;     Vạn lí trùng dương tương tận quyển&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Vãng phục hóa cơ thuấn tức chuyển&lt;br /&gt;     Tương cơ yếu tại lượng thâm thiển&lt;br /&gt;        35. Tự cương duy thánh thể càn nguyên&lt;br /&gt;               36. Ngu thần thiết nguyện sách nô khiển&lt;br /&gt;                                                          (trại).&lt;/em&gt;        &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                    Tự Đức nhị thập bát niên,&lt;br /&gt;                             chính nguyệt, nhị thập nhật,&lt;br /&gt;                             thần Nguyễn, phụng ứng chế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Sáng sớm đầu năm, &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;theo tuần phủ Quảng Yên Hồ Trọng Liễn (Đĩnh) qua các tập tấu sớ đệ trình bằng ngựa về việc quân binh dẹp yên ổ phỉ tại Phù Long, nhân đó ghi chép lại việc ấy&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;em&gt;1. Vua vỗ yên giặc, khoan và nghiêm&lt;br /&gt;     Đạo trời âm dương, kín và rõ&lt;br /&gt;     Trước chạp, oai lạnh đã xua đông&lt;br /&gt;     Ánh xuân vốn rộng, dân ngẩng trông&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;         5. Sửa trị vạn điều, đúng, mới, sáng&lt;br /&gt;     Ma quỷ hết sạch, ánh trời tươi&lt;br /&gt;     Lệ triều lạy mừng, nghiêm áo mão&lt;br /&gt;     Chợt nghe tin thắng, giặc vỡ rồi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Bỗng ngựa dâng ống, tấu Quảng Yên&lt;br /&gt;        10. Vui thấy chiến công quân vùng biên&lt;br /&gt;     Ngẩng suy, Triều đình trao kế dẹp&lt;br /&gt;     Vừa gặp vận tốt, vinh nối liền&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Nước ta biển đông kề biển bạn&lt;br /&gt;     Chung ngọn cỏ bùn tiếng chuông chung&lt;br /&gt;        15. Thanh cạn, láng giềng thành hang hốc&lt;br /&gt;     Cá ao vô cớ gặp ác ngông!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tướng Thanh hai lần không chút thắng&lt;br /&gt;     Ngại khó, rốt cùng sót giặc cắn&lt;br /&gt;     Hang kình lỗ thỏ cướp phục hầm&lt;br /&gt;        20. Năm trước, dân ải qua, gào đắng!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Đức Thuấn lắm lừa?! Mê là tỉnh!&lt;br /&gt;     Vắng tiếng dạy khuyên, đông sang tây&lt;br /&gt;     Sao tranh sân, rào? Đành khắc đậm!&lt;br /&gt;     Khó đổi dạ mày, khuôn mặt mày!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        25. Quân ta hoãn diệt đầu mục sao?&lt;br /&gt;     Tiếng trống Phù Long muôn hiểm: Nhào!&lt;br /&gt;     Tướng võ tuân lệnh, hết giặc mãnh&lt;br /&gt;     Oai giọng, rửa hờn, lừng công cao&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Ghi công đúng dịp mừng khánh lễ&lt;br /&gt;        30. Trăm quan được rõ, thêm mạnh kế&lt;br /&gt;     Ai bảo sóng to không thể êm?&lt;br /&gt;     Bể vạn dặm cuốn cùng sạch bể!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Qua – lại, máy huyền, chuyển chớp mắt&lt;br /&gt;     Thế cơ, lẽ trọng ở nông sâu&lt;br /&gt;        35. Nghĩ trong giới hạn: Càn – thánh thể&lt;br /&gt;        36. Tôi mong quất tôi, ngựa đua lâu.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;Ngày 12 tháng giêng năm Tự Đức thứ 28 (1875),&lt;br /&gt;thần: Nguyễn, kính cẩn đáp lại bài thơ của nhà vua (34).&lt;br /&gt;                           &lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Hạnh Thúy Vân sơn&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;em&gt;1. Thúy Vân hà xứ thị&lt;br /&gt;     Đột ngột quần phong tiền&lt;br /&gt;     Quần phong nhất tề hạ&lt;br /&gt;     Độ thủy độc hoành phiên&lt;br /&gt;            5. Hành cung bàng kì trắc&lt;br /&gt;     Linh tích trĩ kì điên&lt;br /&gt;     Đôi nhiên ngọa thạch lão&lt;br /&gt;     Sâm nhiên cổ (a) mộc tiên&lt;br /&gt;     Lục âm vô hạ thử&lt;br /&gt;        10. Thúy sắc hữu xuân yên&lt;br /&gt;     Điểu ngữ thần chung minh&lt;br /&gt;     Tịch dương mê (mi) lộc miên&lt;br /&gt;     Hoàn liệt mạc phỉ sơn&lt;br /&gt;     Thúy Vân hà kì nhiên&lt;br /&gt;        15. Thẩn hữu thần thao chu&lt;br /&gt;     Nhất hoằng thanh thả nghiên&lt;br /&gt;     Thừa hứng phục đăng lâu&lt;br /&gt;     Nhất đới lạc bình điền&lt;br /&gt;     Mỹ tai danh thắng địa!&lt;br /&gt;        20. Thần du lịch hữu niên&lt;br /&gt;     Ngự kiều liễn lộ xứ&lt;br /&gt;     Cửu dĩ tĩnh trần quyên&lt;br /&gt;     Phùng kim hạ ngũ nguyệt&lt;br /&gt;     Tích (b) dư nguyệt phục viên&lt;br /&gt;        25. Thiên tử mệnh duyệt vũ&lt;br /&gt;     Chu sư hàm tỉ kiên&lt;br /&gt;     Triêu phát Hương Giang tân&lt;br /&gt;     Tiền hậu như thiền liên&lt;br /&gt;     Vãn khai Thuận Trực áp (sạp)&lt;br /&gt;        30. Thiều thiều vân thủy thiên&lt;br /&gt;     Vạn trạo phù trung lưu&lt;br /&gt;     Quân khí mộ ích kiên&lt;br /&gt;     Chu khinh phong tự sinh&lt;br /&gt;     Phong vi thủy tự liên&lt;br /&gt;        35. Thúy Vân tiệm giác cận&lt;br /&gt;     Ngật lập như trữ diên&lt;br /&gt;     Đăng hoa thủy tạ mãn&lt;br /&gt;     Nhiêu (nghiêu) tử nghỉ lâu thuyền&lt;br /&gt;     Tiên trượng quang như họa&lt;br /&gt;        40. Bồng đảo bất tiêu thiền.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;                (a) Phụng châu điểm.&lt;br /&gt;                (b) Phụng châu điểm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                        &lt;em&gt;&lt;strong&gt;Nhà vua đi thăm núi Thúy Vân&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;em&gt;1. Nơi đâu là Thúy Vân  &lt;br /&gt;     Riêng vút giữa dãy trước&lt;br /&gt;     Dãy núi, thấp một lần&lt;br /&gt;     Vượt nước, một núi văn&lt;br /&gt;            5. Cạnh hành cung, chênh chếch&lt;br /&gt;     Dấu đỉnh lẻ, linh san!&lt;br /&gt;     Đá xưa chồng, nằm vững&lt;br /&gt;     Cây cổ (a) rậm đẹp ngàn&lt;br /&gt;     Bóng xanh không nắng hạ&lt;br /&gt;        10. Sắc biếc ngút khói xuân&lt;br /&gt;     Lời chim, chuông sớm vang&lt;br /&gt;     Nắng chiều, hươu nai ngủ&lt;br /&gt;     Không phỉ núi, quân giăng&lt;br /&gt;     Thúy Vân! Thúy Vân!&lt;br /&gt;      – mây biếc – sao biếc thế!&lt;br /&gt;        15. Thuyền thao luyện có tâm&lt;br /&gt;     Nước sâu, trong một vẻ&lt;br /&gt;     Lên lầu, hứng càng nhân&lt;br /&gt;     Một dải rơi: ruộng bằng!&lt;br /&gt;     Đẹp quá nơi danh thắng!&lt;br /&gt;        20. Năm nay vua hoài thăm&lt;br /&gt;     Đường vua, cầu vua sang&lt;br /&gt;     Đã lâu sạch bụi lá&lt;br /&gt;     Gặp nay tháng năm hạ&lt;br /&gt;     Dấu xưa (b) lại tròn trăng&lt;br /&gt;        25. Lệnh duyệt quân, vua ban&lt;br /&gt;     Sánh vai, thế lính vững&lt;br /&gt;     Sớm, từ bờ Hương Giang&lt;br /&gt;     Đàn ve: tiền, hậu quân!&lt;br /&gt;     Chiều, mở đập Thuận Trực&lt;br /&gt;        30. Trời, mây, nước mênh mang&lt;br /&gt;     Vạn chèo trên dòng lướt&lt;br /&gt;     Hùng khí chiều hiên ngang&lt;br /&gt;     Gió tự sinh, thuyền vút&lt;br /&gt;     Gió khẽ, sóng tự lan&lt;br /&gt;        35. Dần đến gần Thúy Vân&lt;br /&gt;     Núi đứng nghiêm đợi đón&lt;br /&gt;     Thủy tạ đèn hoa giăng&lt;br /&gt;     Ghe tiều ghé thuyền tầng&lt;br /&gt;     Như tranh, gươm bụt múa&lt;br /&gt;        40. Đảo Bồng: thiền không tan! (35)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      5&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Trước khi duyệt binh, quan Bộ Binh Trần Tiễn Thành đã khỏi hẳn bệnh lị hay cũng thuyên giảm nhiều. Trong ngày đầu năm mới, ông cũng đến chúc tụng vua và đọc thơ ngự chế (36). Sau đó, hai lần ông ta bái tạ khiến vua Tự Đức rất áy náy (37). Trần Tiễn Thành vẫn là vị quan, lạ lùng thay, lại được nhà vua sủng ái nhất!&lt;br /&gt;      May thay, những ngày Tết Nguyên đán với tin chiến thắng (38) và tiếp đến là sự chuẩn bị cho cuộc duyệt binh lớn (39) sẽ rất hào tráng đã lấy lại sự phấn chấn cho kinh đô Huế.&lt;br /&gt;      Giữa tháng giêng Ất hợi (1875), thượng thư Nguyễn Văn Tường, thượng thư Nguyễn Tư Giản đều hơi thất vọng khi biết linh mục Nguyễn Hoằng vẫn không dịch được những từ ngữ khoa học – công nghệ từ tiếng Pháp, các tiếng Âu Mỹ khác, và cả giám mục Đăng (Dangelzer) cũng thế (40). Quả thật, đây là một khó khăn có thật trong tình hình chung của sĩ phu vốn rất khinh bỉ lẫn ác cảm với ngôn ngữ Tây phương! Đến lúc cần mở rộng tầm nhìn và cần phải học tập Tây học, lại vấp phải hàng rào, chướng ngại vật là ngôn ngữ Tây, nên có những lúng túng, thiếu chủ động.&lt;br /&gt;      Cũng khoảng giữa tháng giêng Nam lịch, Ông Ích Khiêm mới ra kinh đô lãnh lại chức trách cũ. Ông vẫn được giữ chức tán tương quân thứ ở Bắc Kì. Đến nay, Ông Ích Khiêm đã khoẻ hẳn, căn bệnh tâm hoả, hay còn gọi là bệnh lo phiền, đã thật sự khỏi. Vua “lại thấy Ích Khiêm vốn hăng hái mà vô lễ, nhân đấy răn rằng: &lt;em&gt;“Người ta có lễ thì yên tâm chăm đọc thi thư, mới làm [được] nho tướng”” (41) &lt;/em&gt;. Giọng điệu hoàng đế đối với bầy tôi bao giờ cũng thế!&lt;br /&gt;      Trong những ngày Ông Ích Khiêm đợi chỉ dụ, chưa ra Bắc, các đại thần, đặc biệt là thượng thư Nguyễn Văn Tường, có nhiều lần gặp gỡ thân mật, chuyện trò hỏi han Ông Ích Khiêm, một thần đồng đã đỗ cử nhân từ năm mười lăm tuổi, được vua Thiệu Trị vời vào đại nội, ban thưởng, thử lại sức học và tài làm thơ (42). Ông Ích Khiêm là một danh tướng không kém thua Tôn Thất Thuyết. Trong các lần ấy, Nguyễn Văn Tường thường cùng Ông Ích Khiêm ôn lại những năm tháng cùng quân thứ, có nhiều trận sát cánh cùng nhau tiễu phỉ.&lt;br /&gt;      Ở Viện Cơ mật – Thương bạc, thượng thư Nguyễn Văn Tường còn có đủ những tin tức trên cả nước và cố nhiên, không thể thiếu tin tức về Bắc Kì, việc thương chính cũng như quân thứ. Ông chỉ hơi ngại Ông Ích Khiêm và Tôn Thất Thuyết sẽ khắc tính nhau, vì cả hai danh tướng này đều rất giỏi về thao lược, không ai chịu bị ai chỉ huy! Nhưng dẫu sao, Ông Ích Khiêm đã có bên cạnh là tổng lí đại thần Phạm Phú Thứ, án sát Ma Xuân Vinh. Đang suy nghĩ về Tôn Thất Thuyết, thượng thư Nguyễn Văn Tường liền nhận được lệnh dụ của vua Tự Đức cho Nguyễn Uy (Oai) giải chức (43) vì toán giặc ở Bắc Ninh chưa dẹp nổi, hai đoàn giặc Cờ đã quy thuận của hai tên họ Chu, họ Triệu lại làm phản (43). Đó là quyết định của vua sau khi Viện – Bạc và Bộ Binh tâu trình về tình hình trong tháng trước. Đồng thời Vua Tự Đức cũng đã quyết định đổi bổ tham tán Tôn Thất Thuyết làm tuần phủ, hộ lí tổng đốc Ninh – Thái, kiêm tổng đốc các việc quân bốn tỉnh [Bắc] Ninh – Thái [Nguyên] – Lạng [Sơn] – [Cao] Bằng (43). Chức trách của Tôn Thất Thuyết rất lớn và quyền hạn rất rộng, cả về dân chính cũng như về quân thứ. Vua lại cho Bắc Ninh đang phải việc khẩn cấp, nên đặt thêm tuần phủ Bắc Ninh, và bổ Phạm Thận Duật thăng thụ chức ấy (43). Không lâu sau, tham tán thuộc tôn thất lại tâu vào một cách khiêm tốn: &lt;em&gt; “Học thức ít, bệnh tật nhiều, xin vẫn theo chức cũ” (43) &lt;/em&gt;. Vua liền liền tham khảo ý kiến Viện – Bạc, và ban dụ: &lt;em&gt; “Trẫm đã xét rõ cả rồi, tất phải quân thứ và tỉnh hợp nhất, việc và quyền mới chuyên. Ở Sơn Tây [Hoàng Tá Viêm] cũng thế. Huống chi lại đặt thêm tuần phủ [Phạm Thận Duật], đủ để làm được việc […]. Ngươi nên cố gắng, nghĩa không nên từ. Chớ để trẫm lo nhục” (43) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Ở Bắc Kì còn có vụ tiến sĩ Phạm Văn Nghị, một kẻ sĩ yêu nước, rất căm thù giặc Pháp, nay bị bọn Pháp làm sức ép, nên phải đi ở ẩn. Vì tuổi Phạm Văn Nghị cũng đã già, vua Tự Đức đành biếu tặng ông một trăm lạng bạc, không nỡ trách cứ việc ông đánh Pháp thất trận ở đồn Độc Bộ (Nam Định) (44).&lt;br /&gt;      Tháng hai nguyệt lịch, lại xảy ra một việc rất trầm trọng vì phát hiện được một trường hợp không ngờ. Đó là vụ Vũ Duy Trinh (45). Giám sát ngự sử Chu Duy Tĩnh (thân sinh của Chu Mạnh Trinh (46)) tâu hặc y nguyên là một thống lãnh ngụy, đã ra đầu thú, lại được lục dụng làm bang biện ở Hải Dương, dần dà y thăng đến chức viên ngoại lang Bộ Công. Có điều &lt;em&gt; “xem ngôn ngữ cử chỉ hắn không giống sĩ phu, huống chi lại nịnh nọt, đưa đón, tài giỏi của kẻ tiểu nhân, quân thứ tạm cho chức tán tương, Bộ Lại dâng tờ tâu cho dự hàng án sát!… [Hắn] đã bị nguyên thống đốc Lê Bá Thận nêu hặc. Vua chuẩn giao cho Bộ Binh xét lại. Bộ Binh vẫn để trì trệ. Bộ Lại làm tờ tâu chỉ trình bày là sĩ nhân ở Hải Dương, giấu việc theo giặc” (45) &lt;/em&gt;. Và vì vậy, y bị tước hàm chờ xét; hai bộ Lại và Binh (Nguyễn Tư Giản và Trần Tiễn Thành) bị giao cho Nội các xét xử (45). Đình nghị: Vũ Duy Trinh phải bị cách chức, cho y đi làm việc chuộc tội ở sơn phòng Quảng Nam. Cuối cùng, y bị xử chém vì đã bị phát hiện thêm, khi ở Hải Dương, y còn mưu việc cướp bóc (45)! Thật là một vụ án động trời!&lt;br /&gt;      Triều đình vào những tháng đầu năm Ất hợi (1875) đã dồn dập bao chuyện vui buồn!&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường có một niềm vui riêng của mình cũng là niềm vui chung của Bộ, đó là những dự kiến trong năm về cải cách một số điều khoản, sửa định luật lệnh nói chung đã được đình thần bàn nghị, và nhà vua duyệt y, chuẩn cho thi hành. Nhất là vào hạ tuần tháng ba, &lt;em&gt; “Hưng Yên, Thanh Hoá theo lệ (tiết đông rét theo lệ có cấp phát), trích tiền nộp chuộc tội phạt roi, phạt trượng, cấp cho tù phạm, [thông] tư Bộ [Hình] làm phiếu trình lên. Vua y cho nhưng phê bảo rằng: “… Ngoài ra chớ quá lạm. Đều [trích] lục, sức [:truyền] cho biết cả”” (47) &lt;/em&gt;. Điều đó với thượng thư Nguyễn Văn Tường là niềm vui thật ngọt ngào trong công tác.&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;      6&lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;      Tháng ba nguyệt lịch, ngày mậu tuất trong tháng, trời đất bỗng tối sầm như Khâm thiên giám dự tính:&lt;br /&gt;      Nhật thực (48)!&lt;br /&gt;      Mười một tháng ba Nam lịch (14.04.1875), theo thư thông báo của Nước Cộng hoà Pháp, của Phủ suý Gia Định, và với sự đồng ý của triều đình nhà Nguyễn, lễ hỗ giao “hoà” ước Giáp tuất 1874 được cử hành tại kinh đô Huế (49). Vì thế, kì thi hội năm nay phải đình hoãn (50).&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường, Kì Vĩ bá, nguyên phó sứ, được phong làm khâm phái đại thần, cùng với thượng thư Bộ Công Phạm Ý, sung làm phó khâm phái, đã đón tiếp sứ bộ Pháp do bá tước thiếu tá hải quân Brossard de Corbigny (Ba Long Bô) dẫn đầu, Regnault de Premesni (Lê Nho) làm phó sứ. Đó là buổi lễ đại diện hai nước trao cho nhau “hoà” ước Giáp tuất 1874, bản “hoà” ước đã được hoàng đế Tự Đức và quốc trưởng (tổng thống toàn quốc) Pháp phê chuẩn. Và “hoà” ước bắt đầu được tính thời hiệu từ ngày đó.&lt;br /&gt;      Buổi lễ được tổ chức hết sức long trọng trước sân bên ngoài lầu Ngọ Môn (49), bên trong kinh thành Huế.&lt;br /&gt;      Sau đó là nghi thức lưu niệm ngoại giao, hai bên trao tặng các thứ quà biếu của hai nước cho hoàng đế và quốc trưởng cũng như các quan chức tham dự vào việc kí kết, hỗ giao “hoà” ước Giáp tuất 1874. Tất nhiên trong đó có quà tặng bằng khánh vàng cho &lt;em&gt; “tướng mới Du Bi Lê [Dupré], một chiếc; lại nghĩ Du Bi Lê năm trước đã sung làm tướng cũ, [lại] tặng riêng [thêm] một chiếc” (49) &lt;/em&gt;, thành hai!&lt;br /&gt;      Có một điều rất lạ là tên tướng Pháp Dupré, sau một thời gian về nước, tên tướng Krantz thay, nay y lại đổi tên (?) là Duperré, qua Gia Định tiếp tục làm thống đốc Nam Kì lục tỉnh.&lt;br /&gt;      Sau lễ hỗ giao, sứ bộ Pháp được vào triều yết. Đối với nghi lễ nước ta, việc cho sứ thần nước ngoài được triều yết là một sự lệ đặc biệt, tỏ sự ưu ái về ngoại giao. Hôm ấy, trong lúc thân phiên, đình thần đang nghiêm trang tham dự buổi lễ, có lẽ không nén được lòng tò mò, hiếu kì vì lần đầu trông thấy người Pháp, nên Tòng Hoá quận công Miên Trữ, Trấn Tĩnh quận công Miên Dần và hai viên tri huyện kinh sư khác &lt;em&gt; “cúi xuống nhòm trông” (51), “ngẩng trông, nói nhỏ, cười sẽ” (51) &lt;/em&gt;. Chẳng qua, vốn lâu nay trong hoàng tộc, quan chức, dân gian cũng ít người có dịp gặp gỡ người Âu Mỹ, “da bạch tạng, tóc râu ngô, mắt xanh, mũi lõ”, nhất là không thể có dịp đứng gần để nhìn cho thật rõ da dẻ mắt mũi họ! Vả lại, mặc dù từ lâu trong nước ta đã có bóng dáng các cố đạo Tây dương, nhưng thật ra họ chỉ được tiếp xúc rất hạn chế, hầu như chỉ với giáo dân.&lt;br /&gt;      Khi chấm dứt nghi lễ triều yết, bốn vị ấy và những quan chức, hoàng thân có chức trách liên quan hoặc liên hệ gia đình liền bị vua Tự Đức quở trách và giáng phạt, vì thiếu lịch sự tối thiểu, khiến sứ thần Pháp có thể chê cười người Việt ta về cung cách giao tiếp (51)!&lt;br /&gt;      Dẫu sao, lễ hỗ giao “hoà” ước  Giáp tuất 1874 cũng hoàn tất.&lt;br /&gt;      Dĩ nhiên, một cách rất ngẫu nhiên, tháng ấy, vào ngày mậu tuất, hiện tượng thiên văn nhật thực đã xảy ra. Trong dân gian có lắm người giải thích một cách thần bí, ngây ngô, nhưng không phải sai lầm trong thực tế, rằng Đất nước đang bị ma quỷ ám chướng! Hiện thực lịch sử và hiện tượng thiên văn theo cái nhìn thần bí, một đôi khi, lại trùng hợp, mặc dù chỉ tình cờ.&lt;br /&gt;      Đối với vua Tự Đức, triều đình, quan lại và sĩ phu, trước ngày hôm nay một năm hai mươi chín ngày (15.03.1874), tại Gia Định, quả thật, là một ngày quốc hận thứ hai, sau ngày kí kết “hoà” ước Nhâm tuất (05.06.1862). Lễ hỗ giao này chỉ là chính thức hoá ngày quốc hận ấy mà thôi. Và thế là trận chiến ngoại giao, thương mại đã đến ngày diễn ra trên cả nước, nhưng chủ yếu là ở tuyến sông Hồng và các cửa biển phải mở cửa, mở cửa trong vận bỉ của dân tộc. Bấy giờ, triều Nguyễn, kẻ sĩ và toàn thể nhân dân ta hẳn không ngờ Tổ quốc còn lắm ngày quốc hận, mãi cho đến một trăm năm sau (ba mươi tháng tư, một chín bảy lăm: 30.04.1975), non sông mới thống nhất thành một mối!  &lt;br /&gt;      Sau khi tiến hành lễ hỗ giao xong, Brossard de Corbigni và Regnault de Premesni còn ở lại tại Sứ quán Huế, nơi gần sông An Cựu (52), để cùng hai khâm phái đại thần Nguyễn Văn Tường, Phạm Ý bàn định một văn bản quy ước về phạm vi hoạt động và chức năng giới hạn của khâm sứ Pháp tại kinh đô nước ta.&lt;br /&gt;&lt;em&gt;1. “Xe ngựa, võng lọng của khâm sứ nước ấy giống như tham tri nước ta.&lt;br /&gt;2. Khâm sứ nước ấy đóng ở nước ta không phải nộp hạng thuế lệ nào.&lt;br /&gt;3. Người nước ta không được tự tiện dự việc gì trong dinh thự viên khâm sứ ấy; bộ thuộc của viên ấy cũng không được tự tiện dự vào việc gì ở dinh thự các quan nước ta.&lt;br /&gt;4. Người theo hầu của khâm sứ nước ấy hoặc can phạm khoản gì, ta bắt giao cho viên khâm sứ [để] theo lẽ công bằng xử trị.&lt;br /&gt;5. Văn thư của viên khâm sứ ấy giao cho người nước ta, không được bóc ra tự tiện xem.&lt;br /&gt;6. Khâm sứ nước ấy đến công thự của Thương bạc đại thần, phải đưa giấy thông báo cho biết.&lt;br /&gt;7. Nước ấy đưa thư cho nước ta, [nếu nội dung thuộc về] việc nước ấy, do khâm sứ ấy xét trước, chuyển sang; [nếu nội dung thuộc về] việc nước ta, do viên lãnh sự nước ta [tại Gia Định] xét trước, chuyển sang.&lt;br /&gt;8. Tham biện của khâm sứ ấy bằng lang trung nước ta, kí lục bằng tư vụ.&lt;br /&gt;9. Quan đại thần đóng ở kinh [đô] của hai nước, làm việc công gì, đều chiểu theo lễ tục nước ấy.&lt;br /&gt;10. Sắc thư nước ấy đưa đến cho đại viên đóng ở kinh thành nước ta, thì đại viên ấy phải mặc triều phục bưng đến giao cho Thương bạc đại thần nước ta xem xét.&lt;br /&gt;11. Khâm sứ nước ấy mua gỗ làm dinh thự, thứ nào là hạng cấm, không được mua bán.&lt;br /&gt;12. Người theo hầu của khâm sứ ấy không được tự tiện vào trong kinh thành, [kể] cả nơi cấm ở ngoài thành.&lt;br /&gt;13. Nước ta đặt quan lãnh sự đóng ở Gia Định, cũng giống như với các nước đặt ra.&lt;br /&gt;14. Binh thuyền nước ấy đến cửa biển Thuận An, thì chiểu theo khoản thứ hai mươi sáu (26) của thương ước đã định (không được quá một chiếc thuyền, không được chở binh khí)” (53) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Văn bản quy ước này dẫu không thật quan trọng, nhưng cũng phải tranh luận rất gay gắt để giữ được quy cách làm việc của quan chức hai bên lẫn vẻ tôn nghiêm và thể thống của kinh đô một Đất nước có chủ quyền.&lt;br /&gt;      Trong những ngày sau đó, tại Hải Dương, triều đình đồng ý cùng người Pháp tạm làm dinh thự Sở Thương chính (54). Và Sở Lãnh sự Hà Nội cũng như vậy, tại khu vực Đồn Thuỷ thuộc tỉnh cố đô. Bởi thương ước Giáp tuất chưa làm lễ hỗ giao với sự phê chuẩn của vua Đại Nam và tổng thống Pháp, nghĩa là chưa có hiệu lực (thời hiệu), nên vật liệu chỉ là tre tranh, địa điểm cũng tạm thời, không phải Đồn Thuỷ mà là Trường thi Hà Nội (54).&lt;br /&gt;      Trước đó, nguyên là phó sứ rồi chánh sứ, trực tiếp bàn định, kí tên, đóng dấu vào hai cưỡng ước “hữu nghị” và thương mại 1874, nay thượng thư Nguyễn Văn Tường hiện đang kiêm quản Nha Thương bạc, do đó ông phải theo dõi, chỉ đạo việc kí kết quy ước giữa Trần Đình Túc và Varaigue (tổng chỉ huy lực  lượng viễn chinh Pháp tại Nam Kì) vào cuối năm Giáp tuất (11.01.1875), về địa điểm xây dựng Lãnh sự quán Pháp tại Hà Nội (55). Địa điểm quy định là &lt;em&gt; “vùng Đồn Thuỷ, ven sông Hồng” &lt;/em&gt;. Nhưng rồi Lãnh sự quán Pháp lại tạm đặt tại Trường thi tỉnh cố đô, mặc dù cũng phải có thêm một quy ước về chỗ đóng tạm này, sẽ kí kết giữa Trần Hy Tăng và Brionval (đại diện của Varaigue) vào ngày 30.05.1875 (55), tức là mười sáu hôm sau ngày làm lễ hỗ giao cưỡng ước “hữu nghị” Giáp tuất tại Huế (14.04.1874).    &lt;br /&gt;      Việc thành lập, xây dựng Sở Thương chính Hải Dương, Lãnh sự quán Pháp tại Hà Nội và Sứ quán Pháp tại kinh đô Huế trong thực tế không phải là việc đơn giản. Không đơn giản là bởi, trong quan hệ ngoại giao nghìn xưa đến nay, giữa nước ta và các nước châu Á Tế Á (Asia) cũng như các châu lục khác, không hề có việc chấp nhận khâm sứ, lãnh sự. Không kể một nghìn năm bị Tàu với các thái thú chiếm đóng, bóc lột. Không kể thời Hồ Quý Ly để mất nước vào tay nhà Minh Trung Hoa. Từ khi Ngô Quyền mở ra kỉ nguyên độc lập, từ khi Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh đến nay, ngay cả đối với “thiên triều” (!), nước ta cũng không chấp nhận có khâm sứ, lãnh sự Trung Hoa thường trú trên Đất nước mình, chứ đừng nói việc thành lập Nha Thương chính Pháp – Việt! Sở Thương chính là gì? Thực chất đó là cơ quan hải quan và thuế vụ. Can cớ gì người Pháp lại đóng vai trò song song với người Việt ta trong lãnh vực ấy, vốn thuộc chủ quyền nước ta? Thực chất, đó là sự nhân nhượng. Ta chấp nhận cho Pháp cùng ta chia đôi thuế thương chính để bù vào số tiền “bồi thường chiến phí” ngạo ngược, kể cả “bồi thường” cho Tây Ban Nha! Nhưng thuế ấy không chỉ đánh vào tàu thuyền xuất nhập khẩu của người buôn Việt mà cả người buôn Hoa, Pháp, Đức, Anh và nhiều quốc tịch khác. Mới xem qua, thấy Pháp đâu bóc lột gì người Việt, mà chỉ thu thuế của khách thương không phải người Việt. Thực chất, mọi nguồn thu thuế ngoại thương từ các khách thương bất kì nước nào đến buôn bán trên nước ta đều thuộc chủ quyền, sở hữu nước ta, mà người Pháp đã dùng bạo lực súng đạn và sức mạnh thập giá “tả đạo” để cướp lấy. Cửa hải quan và nguồn thu thuế ngoại thương từ ngàn xưa trên nước ta đã được tổ chức, thực thi. Đâu phải mới mẻ gì! Vấn đề là tại sao cửa hải quan và trạm thu thuế ngoại thương hiện tại lại có sự hiện diện của Pháp và chia đôi với Pháp!?!&lt;br /&gt;      Vấn đề là thế đó! Đã bị bức chiếm, bị bức ước, phải đành đoạn mất đứt, mất “vĩnh viễn” (!) Nam Kì lục tỉnh, ấy là cả một nỗi phẫn hận lớn và khôn nguôi. Lại còn bị một thực trạng đau xót thường xuyên đập vào mắt: Dinh Khâm sứ thường trú (tại Huế), Sở Lãnh sự thường trú (tại Hà Nội, lại có một trăm [100] tên lính Pháp bảo vệ đóng đồn) và Sở Thương chính thường trú Việt – Pháp (tại Hải Dương, cũng có một trăm [100] tên lính Pháp), thu thuế chia đôi! Đó là cả một sự bạo ngược phi lí về phía Pháp, là một sự nhân nhượng đến mức phải nói là nhẫn nhục, quá đỗi đau xót về phía Đại Nam. Chính vì sự thể đó, nên sĩ phu, nhân dân, quan chức, triều đình và cả vua Tự Đức đều thấy bị xúc phạm, bị cướp bóc trắng trợn, trắng trợn một cách công nhiên, ngay trên phần lãnh thổ còn lại thuộc vương quốc Đại Nam (từ Bình Thuận đến Cao Bằng)! Đã thế, bọn thực dân Pháp vẫn cứ tìm đủ cách, đủ mánh khoé để lừa đảo, bắt bí, lấn ép các quan tỉnh, Nha Thương bạc, triều đình Huế từng chút một.&lt;br /&gt;      Vì vậy, vấn đề mới xem qua là rất đơn giản, nhưng thực chất không đơn giản chút nào. Những quy ước về địa điểm đóng Sứ quán, Lãnh sự quán và Sở Thương chính (còn gọi là Sở Thuế đoan) diễn ra không đơn giản vì thế!&lt;br /&gt;      “Sách lược thoả hiệp tạm thời”, hay theo cách nói của vua Tự Đức và đình thần, “dùng người Man đánh người Man”, có nghĩa là dùng người nước Thanh đánh người nước Thanh (tiễu phỉ), dùng người Pháp để đánh bọn tay sai ôm chân Pháp (“phù Lê”, “tả đạo”), có thể kể cả việc thuyết phục tên thực dân trí thức ít nhiều còn nhân bản là Philastre nhằm ngăn cản bọn Pháp, để dập tắt nguy cơ thù trong, giảm bớt nguy cơ giặc ngoài. Sách lược ấy phải đành trả giá khá đắt như vậy đó. Trong sách lược này, vai trò “hiệp sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ tà” Lưu Vĩnh Phúc rất đáng kể. Sách lược ấy là đối sách vừa nhằm mục đích thanh toán thù trong vừa không gây khích biến với hai thế lực Pháp và Trung Hoa, một đang xâm lược trắng trợn, một đang liên minh nhưng có nguy cơ lật lọng, nguy cơ đầy đe doạ là sẽ “ăn chia” với Pháp! Hơn ai hết, thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường, đại thần Viện – Bạc, trực tiếp kiêm quản Nha Thương bạc, thấm thía những khó khăn và nỗi đau nhân nhượng ấy, nhưng ông cũng tự hào phần nào khi sách lược “dùng người Man đánh người Man” có hiệu quả thực tế: các lực lượng xuẩn động ở Bắc Kì dần dần im bặt, sau khi mười hai ngàn (12.000) tên “lính bản xứ” cùng hàng trăm tên khác, cỡ như ngụy tổng đốc thợ rèn tên Trương, bị rơi vào thế “tự lật tẩy”.&lt;br /&gt;      Tháng ba Ất hợi, Khâm thiên giám đã dự đoán sẽ xảy ra nhật thực!&lt;br /&gt;      Quả thật, đúng như thế. Mặt trời bỗng dưng tắt hẳn. Đất trời bỗng dưng tối sầm.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường bình tâm nhìn nhận, cân nhắc lại hai cưỡng ước “hữu nghị” và thương mại Giáp tuất 1874: Được những gì và mất những gì? Tất nhiên, phía ta, không ai lại không đau lòng khi kí kết hai cưỡng ước như thế! Tất nhiên, không ai chấp nhận cái gọi là cưỡng ước trong một tình hình khác, thuận lợi hơn và sáng sủa hơn, ấy là không có giặc Cờ, thổ phỉ, hải tặc, “phù Lê”, “tả đạo” ở Bắc Kì, và binh lực ta hùng mạnh hơn. Năm Tự Đức thứ hai mươi mốt (1868), khi còn làm việc chuộc tội với chức năng khâm phái ở huyện Thành Hoá, được gia hàm thị độc học sĩ để sung vào sứ bộ dự định sang Pháp và các nước châu Âu, Nguyễn Văn Tường đã chẳng phản đối quyết liệt, đồng thời vạch trần âm mưu Pháp lừa ta ngồi vào bàn “hoà” nghị đó sao (56)?&lt;br /&gt;      Trong tình thế ngặt nghèo, bị bức bách, sự chuyển nguy làm yên, chuyển bại hẳn thành thắng lợi với chừng mức nhất định, chỉ đến thế, nhưng ông tự nhủ đã gắng gỏi hết sức mình cho Đất nước Đại Nam ruột thịt, yêu dấu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      7&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Những tên giám mục, linh mục mang bản chất thực dân cuồng bạo như Gauthier (Ngô Gia Hậu), Croc (Phê Chính Hoà), nghe tin phái đoàn Pháp do Brossard de Corbigny và Regnault de Premesni làm chánh, phó sứ đến Huế, chúng liền tới dinh tỉnh Nghệ An, dinh đạo Hà Tĩnh để làm reo, kêu đòi bồi thường cho giáo dân trong cuộc nội chiến lương – giáo Nam Đàng Ngoài (57)! Cũng như những đời giáo hoàng La Mã đích thực là trùm thực dân (58), cũng như giám mục Pugnier ở Hà Nội, với Gauthier, Croc, không thể gọi chúng là gì nếu không chỉ đích danh là thực dân, một thứ gián điệp khoác áo tu sĩ Thiên Chúa giáo, biến tôn giáo này thành “tả đạo” xâm lược, nô dịch.&lt;br /&gt;      Trước tình hình ấy, Viện – Bạc, đình thần cùng vua Tự Đức đã nhận định, bàn luận. Cùng với bốn bản sắc dụ quan trọng trong hai tháng cuối năm ngoái, Giáp tuất (1875):&lt;br /&gt;&lt;em&gt;1. Dụ sĩ dân Bắc Kì,&lt;br /&gt;2. Dụ về tình trạng lính xuất thân từ Bắc Kì,&lt;br /&gt;3. Dụ mở rộng ngôn luận,&lt;br /&gt;4. Dụ về chiêu bài “phù Lê” mị dân (13) (14), &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;lúc này, nhà vua lại ban thêm một sắc dụ thứ năm, đập mạnh và sâu vào “tả đạo”:&lt;br /&gt;&lt;em&gt;5. Dụ về việc đòi “bồi thường” cho giáo dân (trong cuộc nội chiến lương – giáo Nam Đàng Ngoài!) (57) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Tuy thế, ngay sau khi đạo dụ thứ năm đã ban ra, chính cả Brossard de Corbigny và Regnault de Premesni cũng với các tên giám mục, linh mục thực dân Gauthier (Ngô Gia Hậu), Croc (Phê Chính Hoà) tiếp tục kêu đòi “bồi thường” (59)! Hết đòi “bồi thường chiến phí” cho chúng để chúng mua sắm, sản xuất súng thép, tàu đồng và nuôi dưỡng bọn viễn chinh cướp nước ta, cướp các đất nước khác, nay chúng lại đòi “bồi thường” cho bọn phản quốc nội loạn, lực lượng hậu thuẫn cho quá trình xâm lăng của chúng! Trong khi đó, thực chất của cuộc nội chiến lương giáo Nghệ – Tĩnh lại được bản dụ chỉ rõ: &lt;em&gt; “Như việc năm trước, dân lương gây ra trước [vì dân giáo theo giúp Françis Garnier], rồi dân giáo nối theo trong đám náo loạn, ai phân biệt cong thẳng? Hoạ tự làm ra thì oán lại ai? Dân lương hay dân giáo đều là dân ta, thì đều là con đỏ của ta. Tự thù hằn nhau, đã là không nên, lại thù hằn với người Pháp, còn ra thế nào? […] Huống chi lại chống cả người Pháp, chống cả quan… […] … Việc ấy cốt nhiên có kẻ xướng xuất mà dân ta bị lừa dối mà thôi. Ôi! Ai xướng xuất là bất nhân quá lắm […]. Lại nghe nói dân giáo hoặc còn kêu bậy không thôi. Không biết dân [theo tôn giáo] của ngươi [:Gauthier, Croc] sao lại nói thế? Ngươi chỉ ngang ngược để gây ra biến, nên mới đến thế. Chúng [:dân lương] cũng chỉ vì dân [giáo] của ngươi để đến bị hại. Ngươi sao còn có không công bằng? Như bảo, dân giáo của ngươi nhiều người bị chết, dân lương há không chết nhiều ư? Bảo rằng của cải dân giáo mất nhiều, dân lương bị mất, so với ngươi há lại chẳng gấp đôi ư? Nếu hết thảy phải đền [cho] ngươi, thì dân lương bị mất, sẽ ai phải đền?… Trong khi chiến tranh, ngọc, đá đều cháy […]. Triều đình xử trí cho hai bên không ngờ ghét nhau…” (57) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Đồng thời với những kêu đòi “bồi thường” ngược ngạo đó, Pháp lại một mực nằng nặc yêu sách triều đình Đại Nam loại trừ “hiệp sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ tà” Lưu Vĩnh Phúc. Kêu đòi ngược ngạo đó lại diễn ra trong khi nhiều tỉnh ở Bắc Kì, nhân dân đang bị mất mùa, lâm vào cảnh thiếu đói!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt;Hết tệp 10 &lt;br /&gt;(phân đoạn 2 truyện kí thứ 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                    Khởi viết truyện kí thứ tám này&lt;br /&gt;vào lúc khoảng 07 giờ sáng,&lt;br /&gt;ngày 17.11.2002 (13.10 Nh. ngọ, HB.2).&lt;br /&gt;   Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 8 lúc 16 giờ kém 10 phút,&lt;br /&gt;ngày 30.11.2002 (24.10 Nh. ngọ, HB.2).&lt;br /&gt;Sữa chữa xong vào lúc 15 giờ 24 phút,&lt;br /&gt;ngày 04.12.2002 (01.11 Nh. ngọ, HB.2). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;            &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(28) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 146 – 147.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(29) Nguyễn Đắc Xuân (biên soạn), Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành, bài của Đào Duy Anh trong Bulletin des amis du vieux Huế (1941), Bùi Trần Phượng dịch, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 25.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(30) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 157.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(31) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974, tr. 59 – 60, 307.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(32) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 164.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(33) Câu đối của Nguyễn Văn Tường do nhà thơ Lương An sưu tầm. Xin xem: KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. &amp; TT., bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản), bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần Xuân An, tr. 77 – 79.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(34) KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. &amp; TT., sđd., thơ Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), bài số 62, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần Xuân An,  sđd., 2000, tr. 369 – 376.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(35) KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. &amp; TT., sđd., thơ Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), bài số 59, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần Xuân An,  sđd., 2000, tr. 355 – 361.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(36) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 159.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(37) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 161.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(38) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 159.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(39) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 163.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(40) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr.164 – 165.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(41) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 163 – 164.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(42) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 276 – 277.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(43) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 170.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(44) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 176.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(45) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 169 – 170.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(46) QTHKL., sđd., 1993, tr. 309.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(47) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 189 – 190.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(48) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 177.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(49) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 177 – 178.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(50) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 168.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(51) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 179 – 180.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(52) Sứ quán cũ vốn ở gần sông An Cựu, nơi để tiếp sứ thần các nước. Đến tháng tư, năm Tự Đức thứ 29 (1876), Sứ quán Pháp mới được phép xây dựng tại chỗ đất của Trường Thuỷ quân (nay là Đại học Sư phạm Huế).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(53) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 180 – 181.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(54) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 181.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(55) Dương Kinh Quốc, Việt Nam, những sự kiện lịch sử (VN., NSKLS.), tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 176 – 177.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(56) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 202 – 204.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(57) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 186 – 189.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(58) Machiavel, Quân vương (Le Prince), Phan Huy Chiêm dịch, Nxb. Quảng Hoá, 1968, tr. 48 – 53; Trần Tam Tĩnh (linh mục, giáo sư, viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Canada), Thập giá và lưỡi gươm (Dieu et Céçar, [dịch thoát]), Vương Đình Bích (linh mục) dịch, Nxb. Trẻ, 1988, tr. 14 – 15. Theo Machiavel, cha đẻ của Céçar Borgia là giáo hoàng Alexandre VI. Nhân vật lịch sử Céçar Borgia cũng giống như hình tượng Tào Tháo trong Tam quốc diễn nghĩa ở thủ đoạn sử dụng “bung xung”. Theo linh mục Trần Tam Tỉnh, giáo hoàng Alexandre VI đã ra sắc chỉ “Giữa những điều khác (Inter caetera, 04.5.1493)” và trước đó, giáo hoàng Nicolas sắc chỉ “Giáo hoàng Rôma (Romanus Pontifex, 08.01.1454)” để cho phép và ủng hộ Tây ban Nha, Bồ Đào Nha đi xâm lược tất cả những nước “ngoại đạo”, khởi đầu của những thế kỉ chủ nghĩa thực dân Phương Tây hoành hành trên các châu lục Á, Phi, Mỹ, Úc (châu Đại Dương). Nguyên văn sắc chỉ 08.01.1454 được dịch và trích dẫn như sau: “Toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Xaradanh (Sarrasins tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của giáo hội, gặp bất cứ nơi nào; được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn” (sđd., tr. 15).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(59) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 190.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Soạn xong phần chú thích&lt;br /&gt;vào lúc 19 giờ 24 phút,&lt;br /&gt;ngày 06.12. 2002 (03.11 Nh. ngọ HB.2).&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HẾT TỆP 10 &lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin xem tiếp TỆP 11&lt;br /&gt;(phân đoạn 3 truyện kí thứ 8)&lt;br /&gt;thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/19823518-113472456265097767?l=tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/feeds/113472456265097767/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=19823518&amp;postID=113472456265097767' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113472456265097767'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113472456265097767'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/2005/12/ph-chnh-i-thn-nguyn-vn-tng-tp-ii-b-10.html' title='PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 10)'/><author><name>Phan Huyên Đình (Trần Xuân An)</name><uri>http://www.blogger.com/profile/04366565891846379473</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='21' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger/3234/1819/1600/A%203.1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-19823518.post-113471964243827203</id><published>2005-12-15T23:47:00.000-08:00</published><updated>2005-12-16T00:29:32.873-08:00</updated><title type='text'>PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 9)</title><content type='html'>Tệp 9 - Tập II  Blog B&lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 1, TRUYỆN KÍ THỨ 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sẽ đăng trên &lt;strong&gt;Tạp chí điện tử Giao Điểm&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;số tháng 12-2005&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm"&gt; http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CUỘC CHIẾN NGOẠI GIAO&lt;br /&gt;VÀ NGOẠI THƯƠNG&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Truyện kí thứ tám&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;(phân đoạn 1)                        &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      1&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Những ngày hạ tuần tháng mười một ở kinh đô Huế năm nay vẫn như mọi năm, lất phất mưa và lạnh buốt. Mùa đông nơi trung tâm của Đất nước không rét khô, cũng không mưa xối xả, ào ạt. Mưa Huế vào quý cuối năm cứ lâm thâm, rả rích như mưa phùn xứ Bắc. Hôm nay, trời hơi hửng nắng, cũng là cái nắng thường thấy xen kẽ trong những ngày mùa đông.&lt;br /&gt;      Ngồi ở Tả vu Điện Cần chánh, thượng thư Nguyễn Văn Tường đang bàn luận công việc cơ mật với hai thượng thư khác, Nguyễn Tư Giản và Lê Bá Thận. Cả ba người đều là quan chính khanh sung Cơ mật viện đại thần. Thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành đang nghỉ bệnh. Ông đang khổ sở với chứng bệnh mạn tính ở đường tiêu hoá, chứng bệnh từ nhiều năm nay cứ thỉnh thoảng lại trở nặng, hành hạ ông (1). Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản trở thành người có thâm niên cao nhất ở Viện Cơ mật – Thương bạc, thường quen được gọi tắt là Viện – Bạc này.&lt;br /&gt;      Với giọng nói của xã Du Lâm, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, huyện giáp giới với Hà Nội, chỉ cách cố đô một con sông Hồng, thượng thư Nguyễn Tư Giản (2) nêu vấn đề về tham tán Ông Ích Khiêm:&lt;br /&gt;      - Tướng họ Ông này vừa rồi được quan tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ ưu ái viết sớ dâng lên vua xin lục dụng. Nhà vua đã châu phê, các quan ở Nội các mới chuyển qua cho Viện – Bạc ta. Bây giờ Viện – Bạc ta phải có ý kiến, sau đó đức vua sẽ duyệt như lệ thường. Tất cả hồ sơ quan tịch của Ông Ích Khiêm và cả sớ của quan họ Phạm, chúng ta ở đây cũng đều đọc rồi. – Thượng thư Nguyễn Tư Giản chờ ý kiến của hai đại thần đồng sự –.&lt;br /&gt;      - Cho đọc lại để mọi người cùng bàn. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói như thể tiếp lời –.&lt;br /&gt;      Một vị quan tham biện cầm sớ đọc:&lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “… Ngày gần đây tướng tài ở đất Bắc chỉ có Tôn Thất Thuyết và viên phải cách [chức] là Ông Ích Khiêm là hơi khá. Nay Ích Khiêm cáo bệnh ở nhà. Thần lần này về quê, đi qua thăm hỏi, viên ấy nói: “Bệnh cũ ngày một hết, tuổi ngày thêm nhiều, không ra mưu toan báo đáp, là phụ ơn, phụ lòng”. Xét về lời nói, hỏi những thân thích, hàng xóm, thì bệnh viên ấy đã khỏi. Kính xin ban ơn cho Ích Khiêm theo thần đến tỉnh [Hải Dương], tạm cấp cho chức hàm giúp việc coi quân, uỷ cho tên ấy hết sức làm việc, thần vẫn điều khiển. May nhờ uy linh nhà vua, [tình hình] có thể ít việc được, thần được chuyên tâm về việc buôn… […] Không dám lấy tình riêng cùng châu, cùng làng, giúp địa vị cho tên ấy” (3)&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      - Quan tham biện đọc những dòng châu phê luôn!&lt;br /&gt;      - Bẩm, xin vâng.&lt;br /&gt;     &lt;em&gt;“Ích Khiêm đổi hết lỗi trước, không cho quân đi cướp bóc, không cậy khoẻ mà vô lễ, không giấu điều xấu, phô điều tốt, tới việc mà biết sợ [:lo xa tính gần], chuộng mưu mà được việc, quân có kỉ luật mới được. [Ngươi tuổi đã] già thì nghĩ biết điều [sai] trái; [trẫm] giao [viên ấy cho] người khéo cảm hoá” (4) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      - Thế là bệnh tâm hoả của tướng họ Ông đã khỏi. Tôi cũng mừng cho tướng ấy.– Thượng thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười –. Ai chứ Ông Ích Khiêm thì tôi quá hiểu tính khí. Tài rất lớn nhưng tật cũng quá lớn, đến nỗi cố Vũ hiển điện đại học sĩ Nguyễn Tri Phương, thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng không chịu nổi! Nhưng sắp xếp như thế là tốt rồi. Đã có quan họ Phạm bảo lãnh và kìm giữ, may chăng Ông Ích Khiêm phát huy được tài cầm quân mà hạn chế được tâm tật vô kỉ luật!&lt;br /&gt;      - Ở Bộ Lại, Bộ Binh, hồ sơ về tướng họ Ông này chất đầy một ngăn tủ!&lt;br /&gt;      - Như vậy là chỉ còn chuyển giao cho hai bộ ấy lo liệu. – Thượng thư Lê Bá Thận nói –.&lt;br /&gt;      - Đồng ý như vậy thì qua mục khác. Ta cố gắng bàn luận cho xong. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường đồng ý –.&lt;br /&gt;      - Ở Bắc Ninh quê tôi, án sát sứ cũng là họ Ma đấy (5). Hay nên tâu lại với đứùc vua, xin chuyển Ông Ích Khiêm về quân thứ Bắc Ninh?&lt;br /&gt;      - Án sát sứ Bắc Ninh? Họ Ma ở tỉnh nào?&lt;br /&gt;      - Quảng Bình. Đủ tên họ là Ma Xuân Vinh (Ma Thế Vinh), quê ở xã Thuận Bài, huyện Bình Chánh, đỗ cử nhân năm Tự Đức thứ mười một, Mậu ngọ (1858) (5). – Quan Bộ Lại Nguyễn Tư Giản trả lời –.&lt;br /&gt;      - Về sau hẵng hay. Ông, Ma, Trà, Chế hay Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn thì cũng như nhau, đều đã là đồng bào cả. Nay cứ theo bản sớ, quan tổng lí Phạm Phú Thứ muốn có Ông Ích Khiêm để giúp việc quân, để ông ấy rảnh tay lo việc thương chính. Viện – Bạc ta cứ tiến hành như bản sớ và lời châu phê chuẩn y. Đâu có việc gì khẩn cấp, bức thiết mà phải xin đức vua châu phê lại! Không khéo lại bị trách cứ. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại mỉm cười –.&lt;br /&gt;      Ba đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc đều nhất trí.&lt;br /&gt;      Buổi làm việc của Viện – Bạc còn kéo dài đến hết buổi sáng. Ba đại thần phân tích, nhận định từng vụ việc một. Trong khi đó, các quan tham biện, tư vụ lục soạn, trình bày, ghi chép các dữ liệu, gồm cả những tấu, sớ, châu phê, châu điểm…&lt;br /&gt;      Khoảng đến gần giờ ngọ, trời sáng hẳn và hơi nóng nực, nếu vẫn còn mặc áo ấm. Các quan đại thần lên kiệu trở về tư dinh ở khuôn viên lục bộ, ngoài cửa Hiển Nhơn, bên trái hoàng thành.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường bỗng bồi hồi nhớ lại những ngày còn là tán lí quân vụ ở biên giới phía bắc. Những năm tháng ấy, ông đã nhiều lần chuyện trò thân tình với Ông Ích Khiêm và cũng nhiều lần sát cánh với Ông Ích Khiêm tiễu phỉ. Ông lại nhớ, hồi tháng sáu nhuận năm Quý dậu (1873), hơn mười sáu tháng trước, lúc mới về kinh nhận nhiệm vụ sung vào sứ bộ, đình thần đã xử án Ông Ích Khiêm. Từ đó, Ông Ích Khiêm bị cách chức, về quê, với căn bệnh tâm hoả vốn có… Thượng thư Nguyễn Văn Tường bồi hồi mỉm cười, thầm bảo: Ông Ích Khiêm là một nhân vật có một không hai trong các danh tướng quái kiệt xưa nay! Ông mong Ông Ích Khiêm sớm ra kinh đô làm thủ tục để ra Bắc. Hẳn tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ hiện ở Hải – Yên cũng đang mong mỏi, trông ngóng tướng họ Ông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      2&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Sau một hôm dự thiết triều, hôm nay Viện Cơ mật – Thương bạc lại họp.&lt;br /&gt;      Vẫn ở Tả vu Điện Cần chánh, ba đại thần phụ trách ba bộ trong sáu bộ, Bộ Lại, Bộ Hình, Bộ Lễ, sung đại thần Viện – Bạc lại họp bàn các công việc như thường lệ. Đây là phiên họp cuối tháng mười một, cũng là phiên họp bàn giao để thôi đảm nhiệm thêm chức vụ này của thượng thư Nguyễn Tư Giản.&lt;br /&gt;      Nhìn hai vị quan đồng sự, thượng thư Nguyễn Tư Giản hơi hé môi cười trước khi nói:&lt;br /&gt;      - Ôm đồm quá nhiều công việc, nào là việc Bộ Lại, việc Quốc tử giám, việc Viện – Bạc, hoàng thượng lại bảo cho đồng kiêm sung việc của Nha Thương bạc, trực tiếp giao thiệp với tướng Pháp, khâm sứ Pháp, quả thật là tôi làm không xiết! Vì vậy, nên cuối cùng không một việc nào thật trọn vẹn! Nay được hoàng thượng cho giảm việc ở Viện – Bạc (6), thật lòng tôi hơi buồn, hơi tiếc điều kiện để báo đáp ơn sâu quân phụ, nhưng cũng khá mừng. Trong phiên họp sau, thượng thư Bộ Hộ Trần Bình sẽ vào họp với hai đại quan.&lt;br /&gt;      - Đức vua phân công, phân nhiệm… Nhưng cũng là ý của quan thượng thư Bộ Lại đó thôi. Dẫu sao những buổi dự thiết triều, ý kiến của quan Bộ Lại vẫn có thể đóng góp tổng quát và cụ thể cho các bộ khác cũng như cho Viện – Bạc. – Quan Bộ Hình Nguyễn Văn Tường đỡ lời –.&lt;br /&gt;      Trên bàn làm việc, một bộ khay chén trà đã được bưng ra.&lt;br /&gt;      Vừa nhấp những ngụm trà đầu tiên, ba đại thần vừa tiếp tục công việc.&lt;br /&gt;      Quan Bộ Hình kiêm quản Nha Thương bạc Nguyễn Văn Tường nói:&lt;br /&gt;      - Theo tinh thần cuộc họp mấy hôm trước, và đức vua cũng đã đồng ý để Viện – Bạc chúng ta bàn tiếp, về việc viết thư cho phủ suý Pháp, nhờ họ mua giúp tàu chiến để trang bị cho quân binh ta tiễu phỉ (7). Nha Thương bạc tôi tuân chỉ dụ, lấy những ý kiến của Viện – Bạc để viết thư gửi phủ suý Gia Định. Bây giờ xin các đại thần bàn lại, xem có gì phải sửa chữa, bổ sung không.&lt;br /&gt;      Quan tham biện đã cho chép sao ra ba bản, trình lên ba đại thần. Dưới ánh đèn nến trong những chiếc lồng thuỷ tinh mỏng chiếu xuống và trong ánh sáng hơi âm u của buổi sáng mùa đông từ cửa lớn toả vào, họ im lặng, trầm ngâm đọc và suy nghĩ.    &lt;br /&gt;      - Quan Bộ Hình họ Nguyễn đã chấp bút thì còn chê vào đâu được. Theo tôi, như thế cũng đã quá đầy đủ rồi. – Quan Bộ Lễ Lê Bá Thận gật gù cuối câu nói –.&lt;br /&gt;     Thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn muốn mọi thành viên của Viện – Bạc phải thật sự lưu ý:&lt;br /&gt;      - Có gì xin các quan cứ đóng góp. Đây cũng chỉ là văn thư hành chính sự vụ, nhưng vấn đề là làm sao vừa giữ thể cách vừa diễn đạt được yêu cầu ta đề xuất.&lt;br /&gt;      Sau một lúc bàn bạc, đóng góp ý kiến và ghi chép, đề mục oái oăm này đã được thông qua. Họ lại bàn một vấn đề khá buồn cười, thuộc về phong tục người Âu và người Á. Chả là sản vật biếu tặng theo thủ tục ngoại giao, triều đình chuyển vào cho phủ suý Pháp, không ngờ lại gây sự hiểu lầm là thiếu tế nhị, khiến tên tướng Pháp tại Gia Định cảm thấy bị khinh khi. Chuyện rất nhỏ nhưng có thể rất thất thố và gây mất lòng một cách không đáng có, do chưa thật hiểu phong tục Pháp. Hoá ra người Pháp không thích được biếu tặng trâu và dê (8), họ xem như thế là bị xúc phạm! May là tên tướng Pháp này cũng thuộc loại lính tráng, nói huỵch toẹt ra là y chỉ thích được tặng biếu thịt ngựa (8) thôi. Đối với người Việt, thịt ngựa lại không được ưa chuộng!&lt;br /&gt;      - Viện Cơ mật – Thương bạc mà lại bàn luận những việc vớ vẩn như thế, thật buồn cười quá! Nói cụ thể chuyện miếng thịt trâu, miếng thịt dê thì buồn cười thật, tuy nhiên, không thể buồn cười được nếu khái quát lên thành vấn đề lớn, là phong tục, tập quán. Trong lĩnh vực ngoại giao, chuyện vặt cũng không thể xem thường, nữa là phong tục, tập quán của dân tộc mình và dân tộc đối tác –. Thượng thư Nguyễn Văn Tường bỗng nghiêm túc hẳn lại –. Đây là một kinh nghiệm ngoại giao cần ghi chép lại. Tôi những mong Viện – Bạc, cụ thể là Nha Thương bạc của tôi phải hỏi han, sưu tập thành một cuốn sách về phong tục, tập quán các nước châu Âu, nhất là nước Pháp, sau đó là Y Pha Nho, Anh, Đức… Ngành Thương bạc phải rất am hiểu khía cạnh ấy mới dễ thành công. Trong lịch sử nước ta, đã từng có những nhà ngoại giao kiệt xuất. Trong kho tàng giai thoại về ngoại giao của ta cũng thế. Nhưng đó là quan hệ giữa Việt – Hoa và với các nước lân bang châu Á. Quả thật, với châu Âu, ta tiếp xúc ít ra là bốn trăm năm nay rồi, nhưng cũng chỉ qua quýt, thành ra lần này hơi thất thố, cái thất thố không đáng có! Phải cố gắng có một cuốn sách như vậy.&lt;br /&gt;     Ba đại thần nhất trí. Đề mục tiếp theo của buổi họp lại là vấn đề sắc dụ của nhà vua gửi cho sĩ dân Bắc Kì và phản hồi từ Bắc gửi vào.&lt;br /&gt;     Quan tham biện đọc:&lt;br /&gt;     &lt;em&gt;“Dụ rằng: Thói quen làm thay đổi lòng người quá lắm! Không có người hiền và người có đức vọng ở dân đứng lên mà sửa chữa, thì khó lắm thay!&lt;br /&gt;      Bắc Kì từ trước đến nay phong tục vẫn kiêu bạc, xa xỉ, phóng đãng, tuy trong đó có nhiều lương gia, thiện sĩ, nghĩa phu, tiết phụ. [Người tốt] cố nhiên không ít, nhưng dân du thủ, du thực, ngoan phu, đãng tử, gái đĩ bợm, [kẻ] buôn gian giảo, lại không biết gấp mấy. [Thói thường] càng chuộng hào phóng, [thì] quẫn bách đến ngay! [Do vậy] phàm việc giả danh, phạm nghĩa, không việc gì là không làm! Từ trước đến nay, [bọn xấu ở Bắc Kì] chợt yên, chợt động, cố tật không thể bỏ hết được. Trong đó, Bắc Ninh, Thái Nguyên là quá lắm, rồi thứ đến [là] Hải – Yên và Tam Tuyên [Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang]. Hà Nội vốn gọi là nơi đô hội phồn thịnh mà trộm cướp thường phát ra, [khiến] dân chúng sợ không đâu [:luôn nháo nhác!]. Chỉ hạt Nam Định cũng gọi là nơi đất tốt, mà lòng người hơi được thuần thục, thật thà, còn là khá. Kìa như Phạm Văn Nghị, Doãn Khuê, Đỗ Phát [người Nam Định], các người ấy cũng là người nhà nho lão luyện, là vị hưu quan, thế mà biết vì nước dạy bảo dân, không đến nỗi để lo cho triều đình. Ngoài ra như bọn Nguyễn Bỉnh, Lê Đình Diên [người Hà Nội], Nguyễn Thành, đều là người có danh vọng của sĩ dân. Lại những người trẫm không thể biết hết được, chỗ nào cũng có. Sao lại không biết dạy dân, bảo học trò, khiến cho đổi điều ác làm điều lành, trừ kẻ bạo ngược, cho dân yên, để thư lòng lo về miền Bắc [phương Bắc: Trung Hoa?] của trẫm?&lt;br /&gt;      Nay giặc nước Thanh trốn lẩn, lấn át bờ cõi ta, làm xóm làng ta xiêu bạt, cướp nhục con trai, con gái ta, chính phải cùng căm thù, địch với kẻ [đáng] giận, thề tất đánh một trận, giết và đuổi hết đi, mới tỏ ý giữ gìn [bờ cõi], [xóm làng] giúp đỡ nhau. Tại sao lại dung túng cho kẻ du đãng của ta, hại lương dân ta, giúp cho bạo ngược thêm lên? [Thế] thì bất nhân càng quá lắm! Quan lại, tướng hiệu vỗ yên, đánh dẹp đã bất lực; thầy trò khuyên bảo lại không có [phương] thuật! Trẫm sao lại có thể nằm yên một khắc được!&lt;br /&gt;      Từ nay về sau, [trẫm] thực muốn các quan chăn dân các địa phương, cha anh thầy bạn trong làng đều lấy lòng lành, nết tốt dạy bảo con em, [cho tất cả đều] đổi điều lỗi, theo điều lành, đều đến [với] đạo [lí] hay [đẹp của dân tộc] cả, để đáp ứng chí của trẫm. Chớ coi thường lời nói của trẫm” (9) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản cố giấu niềm xấu hổ, một cảm giác rất tự nhiên của con người khi nghe lời chê trách, dẫu bên cạnh lời chê trách ấy vẫn có sự khẳng định, động viên nét tốt, về một vùng đất, nơi đó có bản quán của mình. Thật ra, chính ông, ông đã tham gia vào việc hình thành nên bản dụ ấy của vua Tự Đức trong những lần họp Viện – Bạc trước đây. Tuy vậy, dẫu muốn nhìn thẳng vào sự thật dân tình Bắc Kì, ông vẫn có chút gì nghèn nghẹn và nhột nhạt, mắc cỡ.&lt;br /&gt;      Sau một thoáng bối rối, thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản nói:&lt;br /&gt;      - Vấn đề là những phản hồi của sĩ dân Bắc Kì. Bản dụ đã được tuyên đọc và niêm yết khắp đất Bắc hơn mười hôm rồi. Quan tham biện cứ nêu rõ những ý kiến của sĩ dân để các quan cùng bàn.&lt;br /&gt;      Hai vị quan tham biện, phụ tá của Viện – Bạc, nêu lên những ý kiến thu thập được. Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói:&lt;br /&gt;      - Tình hình Bắc Kì, bản thân tôi có đến năm năm ở ngoài ấy, tôi rất rõ. Trước đây, hồi tháng sáu nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi ba (1870), tôi đã có một bản tấu về tình hình các tỉnh xứ Bắc (10)… Nhận định chung về Bắc Kì là đáng buồn như vậy, dẫu vẫn có rất nhiều người tốt, làng tốt… Nay, lại đọc, lại nghe bản dụ và những ý kiến sĩ dân phản hồi, thì đúng là cũng không khác hơn. Có một điều, Nam Định lại được nhà vua đánh giá cao, vì đó vốn là một nơi tuy có nhiều giáo dân nhưng cũng là nơi “sát tả” nhiều nhất. Tôi thấy từa tựa như Nghệ – Tĩnh của Bắc Trung Kì.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản gật đầu:&lt;br /&gt;      - Vâng, đó là điều cần lưu ý. Phải thừa nhận hoàng thượng có ẩn ý rất sâu sắc.&lt;br /&gt;      - Bắc Kì và giặc Tàu các loại quả là một khó khăn lớn của bản triều… – Thượng thư Bộ Lễ Lê Bá Thận nói khái quát, và không có ý kiến gì khác, ông bỏ lửng câu nói –.&lt;br /&gt;      Ba đại thần đều im lặng, trầm ngâm suy nghĩ. Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường nhìn ra ngoài sân, thấy nền sân lát gạch với những chậu hoa đủ loại xanh ngắt lá đang hửng lên dưới nắng gần cuối đông.&lt;br /&gt;      - Nếu không có ý kiến gì thêm, tôi mạn phép đề nghị chúng ta bàn về tên Nguyễn Văn Phương từ đất Bắc Kì chạy vào Nam Kì (11). Nhưng may là tên Phương này chỉ không có giấy tờ, chứ cũng chưa có ý cầu viện để phản loạn. Tuy nhiên, không phải tên nào trước đây và hiện nay cũng như tên Phương ấy, mà còn có khá nhiều những tên không thoả chí khác của Bắc Kì, cũng chạy vào Gia Định giả thác cớ này cớ khác, yêu cầu tướng giặc xâm lăng Bắc Kì, như hồi năm ngoái! Thật là dân gian tặc vô sỉ! Lần này, chính tướng Pháp lại bắt Nguyễn Văn Phương giải giao cho tỉnh Bình Thuận. Vụ tên Nguyễn Văn Phương này là một trong những nguyên nhân sâu xa và tức thời để nhà vua ban sắc dụ vừa rồi.– Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường nói tiếp –. Bộ Hình tôi đã được lệnh dụ xử thật nặng tên Nguyễn Văn Phương này (11). Theo hai quan lớn, như vậy, Viện – Bạc chúng ta đồng ý cho Bộ Hình tuân chỉ?&lt;br /&gt;      - Viện – Bạc đã tâu, nhà vua nhất trí, chuẩn y, thì chỉ cứ việc thi hành. Đây là vụ không có điều gì phải bàn lại, tâu lại. Quan lớn Bộ Hình xin cứ thi hành như thế.  &lt;br /&gt;      - Tôi nghĩ, nên chăng, Viện – Bạc chúng ta cũng cần phải bàn luận để tâu xin nhà vua giải quyết thật rốt ráo vấn đề Bắc Kì. Đây là phiên họp cuối của thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản, mong quan lớn họ Nguyễn làng Du Lâm cho ý kiến. – Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường đề nghị –.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản gật đầu với cái mỉm cười:&lt;br /&gt;      - Vâng, chúng ta cứ nêu ra từng khía cạnh một, để cùng bàn.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường chợt lặng người trong một hồi tưởng. Ông nhớ đến Đoàn Thọ, đại tướng quân người An Giang, giữ quyền tiết chế thống lĩnh ba đạo quân ra Bắc năm nào với một bản tấu của ông ấy về tình trạng lính Bắc Kì (12). Và một vấn đề khác của thực trạng Bắc Kì là chiêu bài mị dân “phù Lê”. Cả hai  vấn đề ấy đã nổi cộm từ lâu, ai cũng biết, nhưng chưa lần nào giải quyết thật rốt ráo. Suy nghĩ, đắn đo một lúc, ông nói:&lt;br /&gt;      - Hẳn phải phân tích thực trạng lính của triều đình xuất thân từ Bắc Kì. Và phải phân tích rõ trên cơ sở lịch sử vấn đề “phù Lê”.&lt;br /&gt;      Ba đại thần bàn từng khía cạnh một thật kĩ lưỡng. Các quan tham biện, tư vụ ghi chép luôn tay không nghỉ.&lt;br /&gt;      Khoảng cuối giờ tị (mười một giờ), muộn hơn thường lệ, Viện – Bạc mới ngừng cuộc bàn thảo.&lt;br /&gt;      Ngoài sân, nắng đã gần đứng bóng.&lt;br /&gt;      Trong tháng mười hai, không chỉ hai mà đến ba đạo dụ quan trọng của vua Tự Đức được ban bố (13). Trong khi bàn luận về các ý tưởng để tâu trình lên vua về ba đạo dụ này, với sự có mặt của thượng thư Bộ Hộ Trần Bình, cũng có sự hiện diện của thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành, trong những buổi làm việc ông gắng gượng đi được. Ngoài hai đạo dụ về hai vấn đề trong phiên họp cuối tháng mười một đã bước đầu bàn thảo, còn có một đạo dụ khác về việc mở rộng đường ngôn luận cho quan lại và sĩ dân (14). Mục đích của đạo dụ này là để từ đó, quan dân có quyền được tâu bày ý kiến của riêng mình và cũng để triều đình hiểu hết ý dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      3&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn thường xuyên lo điều hành, chỉ đạo các công việc của Bộ Hình ông trực tiếp đảm trách. Từ khi nhậm chức, ông thấy cần phải cải cách một số điều khoản hình luật và công tác thi hành luật. Đó là những gì cần phải thay đổi càng sớm càng tốt. Trong thời gian này, công việc Nha Thương bạc chỉ là các văn thư trao đổi với thống đốc Nam Kì thuộc Pháp, còn Sứ quán vẫn chưa tới thời hạn để khâm sứ Pháp đến thường trú.&lt;br /&gt;      Sáng nay, không phải là ngày vào Điện Cần chính dự thiết triều, nghe tấu sự và đình nghị, cũng không phải đến Viện – Bạc ở Tả vu để bàn việc cơ mật, ông đang cẩn trọng xem xét những vấn đề thuộc Bộ Hình:&lt;br /&gt; &lt;em&gt;++ Những tấu nghị đã nghiên cứu cẩn trọng và đã được phê chuẩn: &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;a. Tháng mười một: Đề xuất định lại lệ xử thêm bậc về mức phạt trong khoá thanh tra, truy buộc bồi thường không được việc. Vua Tự Đức đã chuẩn y tấu nghị này (15).&lt;br /&gt;b. Tháng mười hai: Đề xuất định lại điều lệ bắt kẻ phạm chuộc tội (lấy công truy bắt kẻ bị truy nã để chuộc tội). Bộ Hình kiến nghị không chuẩn cho bọn phạm nhân tái phạm chuộc tội kiểu ấy lần thứ hai, mà phải đền tội. Đã được chuẩn y (16).&lt;br /&gt;&lt;em&gt;++ Những tấu nghị cần bàn thêm trong nội bộ Bộ Hình trước khi xin nhà vua xem xét và đình nghị: &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;a. Đề xuất giải quyết án hình đã tuyên phạt còn tồn đọng, đồng thời trình lên các bản án ở kinh đô và ở các tỉnh còn để đọng, chưa xét xử, ở các tỉnh Bắc Kì và tỉnh cực bắc Trung Kì: Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thanh Hoá. Tất cả có đến tám trăm bốn mươi ba (843) vụ chưa kết án, bảy trăm năm mươi ba (753) người hiện còn giam cứu (17). Đây là một trong những yêu cầu khẩn thiết của phạm nhân và thân nhân họ. Kẻ có tội phải được công khai xét xử sau khi điều tra kĩ lưỡng, không nên giam cứu quá lâu, khiến để xảy ra tình trạng người vô tội, trắng án nhưng vẫn bị tù oan. Mở rộng ra, ấy là khát vọng về công lí của nhân dân, cụ thể là mong được công khai xét xử.&lt;br /&gt;b. Đề xuất định lại lệ nộp tiền chuộc tội xuy trượng (phạt roi, phạt gậy), đặc biệt quan tâm, chiếu cố đến những người lương thấp, phụ cấp thấp hoặc nghèo khó, như ngũ trưởng binh đinh, hạng thợ thuyền làm thuê (giảm 50%, vì tha cho tất cả thì không biết lấy gì để làm răn), cũng không phân biệt phạm nhân là người trong kinh hay tỉnh ngoài. Phải định rõ quy chế thu tiền chuộc tội để khỏi sinh các tệ nạn tiêu cực (18).&lt;br /&gt;&lt;em&gt;++ Theo sắc dụ, chuẩn bị sắp xếp một số quan viên chức&lt;/em&gt; để đến tháng hai nguyệt lịch sang năm sẽ tiến hành sửa định luật lệnh. Sau khi sửa định xong, ban tu chính sẽ soạn lại thành sách &lt;em&gt; “Đại Nam tụ trân điển lệ hội biên” (19) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Đang mải mê đọc lại, suy nghĩ và ghi chú vào sổ riêng, thượng thư Bộ Hình nghe tiếng bẩm báo của một viên lính trực nhật:&lt;br /&gt;      - Bẩm, kính trình quan thượng thư, có viên lính của Bộ Lại trao danh thiếp quan thượng thư bên ấy.&lt;br /&gt;      - Ngươi vào đi.&lt;br /&gt;      Viên lính bước vào thư phòng, thi lễ, và trao tấm danh thiếp đặt trên một chiếc khay nhỏ bằng gỗ, được chạm trổ những hoa văn rất tinh tế, có nạm xà cừ lóng lánh.&lt;br /&gt;      Liếc mắt, biết danh thiếp của Nguyễn Tư Giản và những giòng chữ hẹn sẽ đến gặp để bàn chuyện tại Bộ Hình, thượng thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười, cầm bút lông viết vào mấy chữ: “Mong sẽ diện kiến cuối giờ thìn (09 giờ)”.&lt;br /&gt;      - Ngươi đem ra trao cho viên lính trực nhật của Bộ Lại.&lt;br /&gt;      - Bẩm, vâng.&lt;br /&gt;      Người lính thi lễ rồi lui ra với chiếc khay nhỏ trên hai tay.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường ngẫm nghĩ lại việc xét xử hai vụ án mới đây. Một vụ về án tại Quảng Nam, phạm nhân Nguyễn Văn Nhuận chém chết mẹ kế là Lê Thị Luận. Vụ này, Bộ Hình đưa ra mức án nhẹ hơn mức ở tỉnh trình lên, nhưng nặng hơn mức đình thần nghị xử (20). Một vụ khác, án tại Bình Định, kẻ phạm Dương Văn Kiều thay đổi tên khác để đi làm. Vụ thứ hai này do luật chồng chéo, phải nghị xử lại. Đó là hai vụ mà án sát của hai tỉnh đều lúng túng không biết vận dụng luật thế nào, bèn trình báo về Bộ Hình. Các quan chức tại Bộ trực tiếp giải quyết cũng lúng túng, ngay cả ông, thượng thư Bộ Hình, quả thật cũng thấy sự lúng túng đó rất là khó tránh. Khi đình nghị, vua Tự Đức cũng phải trách: &lt;em&gt; “Các quan có trách nhiệm, phàm gặp việc gì khác thường khó xử, đều ghi án giữ riêng hoặc ghi vào điển lệ để tiện lâm thời xem xét. Thế mới là để tâm về việc nước. Tại sao người giữ chức vụ mờ mịt chẳng biết” (20); “một mặt thì dẫn nghị cũ khoảng năm Minh Mệnh, một mặt thì dẫn nghị mới năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, đều cho là phải cả, hầu theo đường nào” (21) &lt;/em&gt;. Đâu phải vua Tự Đức trách nhẹ lời! Bao giờ nhà vua cũng cứ quở trách với giọng điệu hoàng đế! Sự thể, chả là luật chưa thật thống nhất, nhất là do những điều khoản thay đổi, luật Tự Đức phủ chính luật Minh Mệnh, nhưng luật Minh Mệnh vẫn còn hiệu lực (thời hiệu). Ngoài ra, có những tội danh hình sự không có trong khung luật. Do đó, nhà vua, đình thần cũng thấy rõ như kiến nghị của Bộ Hình, là không thể không cấp tốc đồng thời phải rất cẩn trọng, trong việc tu chính lại luật lệnh, để các án sát, các quan thuộc Bộ Hình khỏi lúng túng, khỏi suy diễn, “chế biến” luật và mức án. Thượng thư Nguyễn Văn Tường cũng đã sắp xếp xong nhân sự của ban tu chính, đang chờ vua phê duyệt: Vũ Khoa (hữu thị lang Bộ Hộ), Phan Sĩ Thục (biện lí Bộ Hình), Chu Duy Tĩnh (lãnh Giám sát ngự sử), Ngô Quý Thông (Nội các thị độc) và các nha lại thuộc lục bộ (19).&lt;br /&gt;      Đúng vào cuối giờ thìn, thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản đến. Hai vị thượng thư thi lễ chào nhau và cùng ngồi xuống bộ tràng kỉ tiếp khách ở tiền sảnh. Người lính hầu bưng khay chén trà ra, xin phép được rót trà ra hai chiếc chén sứ đặt trên hai chiếc đĩa đồng bộ.&lt;br /&gt;      - Sáng nay, tôi định trao đổi cụ thể với quan Bộ Hình và Nha Thương bạc về mức giáng cấp Trần Đình Túc và mức Nguyễn Tăng Doãn bị phạt bổng một năm. Đó cũng thuộc vụ việc của Nha Thương bạc, chúng ta đồng kiêm sung.– Thượng thư Nguyễn Tư Giản nói –. Tôi chẳng hiểu vì sao hai vị ấy lại trái lệnh, cho tàu thuỷ của Tây chở hàng buôn của người Hoa, lại còn cho bọn Pháp một trăm thước ta đất để di táng Françis Garnier (22)! &lt;br /&gt;      - Chẳng qua là vì hai vị ấy vội vàng, sơ suất. Trước đây, việc tàu các nước Tây chở thuê hàng hoá cho người buôn nước Thanh, đã chuẩn cho nghiêm cấm, phải đợi sau khi định thương ước mới thi hành. Thế mà hai vị ấy lại cho Dujardin đáp tàu để chở. Và, nói cho chính xác, họ cho phái viên Pháp đắp thêm khu đất di táng Françis Garnier  khoảng một trăm thước ta. Cả hai việc đều không hợp pháp. – Tôi nghĩ ai cũng có những sơ suất không đáng có –. Triều đình phải phạt để giữ kỉ cương. Nhưng… Không biết bên quý Bộ Lại đã nhận thông tư chưa, về việc tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ tâu xin cho đoàn thuyền Jean Dupuis chở hàng cho người Hoa khách thương chỉ một lần để y kiếm chút lợi, bù vào lộ phí. Đoàn tàu của tên Pháp tặc ấy lâu nay không được di chuyển nên cũng quẫn bách. Vua chuẩn nhưng bảo y phải nộp thuế (23).&lt;br /&gt;      - Đúng là thời buổi rất khó xử vì có lắm điều thật oái oăm.&lt;br /&gt;      - Thôi thì cứ xem đó là một thứ gò Đống Đa mà Tây Sơn chôn xác quân Thanh năm nào vậy, và cứ làm phúc cho tên Jean Dupuis một lần, để tỏ ra triều đình ta không hẹp hòi. – Thượïng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường nói –.&lt;br /&gt;      - Cũng trao đổi thêm tí chút cho rõ thế thôi. Bộ Lại tôi đã thi hành theo lệnh chuẩn y. – Thượng thư Nguyễn Tư Giản ngập ngừng –. Chẳng hiểu quan Bộ Hình nghĩ sao, chứ tôi thấy ba bản sắc dụ của nhà vua vừa ban hành rất chí lí. Hẳn là mọi người dân, mọi sĩ phu không phàn nàn gì. Vấn nạn Bắc Kì, với chiêu bài mị dân là “phù Lê”, thật quá sức dai dẳng!&lt;br /&gt;      - Còn bản dụ phân tích binh lính của triều ta xuất thân từ Bắc Kì? Chắc cũng có tác dụng như bản dụ phân tích trên cơ sở lịch sử về bọn “phù Lê”? Hôm họp Viện – Bạc chúng ta cũng đã bàn. Và hai bản dụ ấy nhà vua cùng ban xuống một lần với bản dụ &lt;em&gt;“mở rộng đường ngôn luận của sĩ dân” (14)&lt;/em&gt; là rất phù hợp. Tôi thấy vậy. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại nói –.&lt;br /&gt;      - Thật đúng như thế. May chăng như thế mới giải quyết tận gốc vấn nạn “phù Lê”. Đúng là nhà Lê đã mất vào tay nhà Mạc, Triệu tổ Tĩnh hoàng đế Nguyễn Kim là người có công trung hưng nhà Lê, nhưng bị họ Trịnh soán quyền. Vua Lê, chúa Trịnh đều mất vào tay Tây Sơn Nguyễn Huệ. Cuối cùng Thế tổ Cao hoàng đế Nguyễn Ánh  lấy lại vương quyền từ Tây Sơn. &lt;em&gt;“Thế là lấy thiên hạ ở tay Tây Sơn, nhà Lê đâu có dự gì” (24) &lt;/em&gt;. – Thượng thư Nguyễn Tư Giản nói –. Chuyện biến dịch trong lịch sử thì vô cùng, nhưng thế cũng là biến dịch đúng đạo.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường muốn nói rõ là vua Tự Đức cần minh định như thế để đánh tan âm mưu của Pháp muốn lợi dụng chiêu bài ấy để kích động dân ta. Thật sự, trong bản dụ có viết rất rõ: &lt;em&gt; “Năm trước như Tạ Văn Phụng, ngày gần đây như Hồ Văn Vạn, hoặc giả xưng là con cháu nhà Lê, hoặc nói dối là con cháu thờ nhà Lê, dấy quân nơi bãi biển, ngấp nghé mong làm [việc] không phải [đạo], thậm chí xướng lên cầu tướng nước Pháp cùng giúp…” (24) &lt;/em&gt;. Vua cũng nói rõ khi thiết triều: &lt;em&gt; “Nước Pháp mới cùng ta hoà, tuy không nói rõ về [việc Pháp] giúp kẻ ác, cũng nên đem nguyên uỷ việc nhà Lê bảo bằng giấy tờ, một là để giải sự nghe lầm của dân ta, một [nữa] là để ngăn lòng khác của tướng nước Pháp” (24) &lt;/em&gt;. Thế là đã minh định rất rõ rồi! Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại mỉm cười chua xót khi nghĩ đó là một động lực thúc đẩy buộc vua Tự Đức phải đau lòng “tranh thủ kẻ mạnh”, để Pháp và “tả đạo” không ngả về phía “phù Lê” (mà kẻ trá mạo cam tâm theo làm tay sai cho Françis Garnier là Lê Duy Quý), và từ đó, dẫn đến việc đành phải kí kết “hoà” ước Giáp tuất 1874 với Pháp. Sự biến Bắc Kì với bốn tỉnh bị thất thủ mặc dù là động lực xô đẩy chính, nhưng không thể không kể đến thứ động lực nguy cơ kia! Có một điều, ông hiểu vì sao vua Tự Đức không khẳng định công lao mở nước từ Phú Yên đến Cà Mau của chúa Nguyễn. &lt;em&gt;Bản đồ nước ta từ nghìn xưa đến nay, dưới thời Nguyễn vẫn là rộng lớn nhất&lt;/em&gt;. Ông lại chợt nhớ bài thơ ông viết khi thăm mộ Lê Văn Duyệt (25). Quận công họ Lê này có những hạn chế về cuối đời, nhưng công bình Tây (đánh dẹp Tây Sơn, Tây Sơn vốn lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn), công lao ấy vẫn là rất lớn đối với nhân dân tả Trung kì và Nam Kì, vốn là thần tử (tôi con) của các chuá Nguyễn, họ muốn sống hoà bình quanh ngai vàng nhà Nguyễn!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Lạy trời cho cả gió nồm&lt;br /&gt;Cho thuyền chuá Nguyễn dong buồm thẳng ra! &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Ca dao Nam Bộ chẳng hát lên như thế đó sao?&lt;br /&gt;      Những vấn nạn lịch sử lại thêm một phần gay go là thế đó… Ông lại nhớ đến một trong những thầy học cũ là thân phụ của Lê Đình Dao, người không muốn gọi Tây Sơn là ngụy, xem Tây Sơn như một lực biến dịch để thống nhất, một khi Đất nước chia làm âm – dương chia cắt, tương khắc, chiến tranh đến hai trăm năm. Công lao của Quang Trung Nguyễn Huệ, thống nhất Đàng Trong – Đàng Ngoài, đánh tan ngoại viện của hai Đàng, là rất vĩ đại. Lực biến dịch để thống nhất Đất nước không thể là ngụy được! Có thể chỉ vì như thế mà vị thầy đồ làng Bồ Bản lận đận thi cử một đời (25)!… Cuộc nội chiến hai trăm năm, Trịnh – Nguyễn phân tranh, là tội ác của chuá Trịnh, chuá Nguyễn đối với lịch sử chăng? Nhân dân hai Đàng chẳng ta thán đó sao! Nhưng dẫu sao, nhà Nguyễn (thời các chúa Nguyễn…) vẫn có công lao rất vĩ đại đối với Đất nước (buộc phải thu phục, khai phá phương nam trong điều kiện lịch sử – cụ thể), nên vẫn chính danh, chính nghĩa trong việc giành lại ngai vàng từ tay nhà Tây Sơn (25). Chẳng lẽ một nửa Đất nước phía nam (Đàng Trong) do chín đời chuá Nguyễn lãnh đạo nhân dân xây dựng và khai phá, ròng rã hai trăm năm, lại dễ dàng để cho Tây Sơn chiếm lĩnh? Công lí, đạo lí lịch sử – cụ thể thời phong kiến, quân chủ kia mà! Hơn nữa, Bùi Đắc Tuyên đã xui đẩy nhà Tây Sơn đến chỗ suy tàn! Vận nhà Tây Sơn ngắn ngủi chỉ có thế!&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường nghĩ thầm trong lòng mình: Thầy đồ làng Bồ Bản (thân phụ của người bạn đồng hương Lê Đình Dao), đã nhận thức, đánh giá rất đúng: ông xem Quang Trung Nguyễn Huệ là vĩ đại khi vị vua ấy như một lực biến dịch để thống nhất giang sơn chia cắt hai Đàng về một mối. Nhận định đó xem ra mâu thuẫn với sự đề cao vai trò chính danh, chính nghĩa của các chuá Nguyễn và các tiên đế Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Thực ra, không nước đôi, không ba phải, không mâu thuẫn gì cả, bởi phải xem xét ở góc độ này, vai trò lịch sử này, thời đoạn lịch sử này, đồng thời phải xem xét ở góc độ kia, vai trò lịch sử kia, thời đoạn lịch sử kia…&lt;br /&gt;      Ngẫm nghĩ một lúc, ông không muốn sa đà theo mạch kí ức về lịch sử và về bản sắc dụ của vua Tự Đức, thượng thư Nguyễn Văn Tường chợt hỏi quan Bộ Lại về việc họ Lưu:&lt;br /&gt;      - Bọn Pháp lại muốn ép ta bạc đãi Lưu Vĩnh Phúc. Lưu Vĩnh Phúc lại chỉ muốn ở Bảo Thắng thuộc tỉnh Hưng Hoá, ấy là nơi cửa ngõ thông thương của tuyến sông Hồng (26)! Quan Bộ Lại thấy sao?      &lt;br /&gt;      - Quan Bộ Binh Trần Tiễn Thành cũng đã tâu trình về việc này. Thống đốc Hoàng Tá Viêm đang điều động họ Lưu đánh dẹp giặc Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh (26).&lt;br /&gt;      - Thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành lại trở cơn đau bụng, xin nghĩ lại rồi. Nếu có thể, hai chúng ta cùng qua tư dinh Bộ Binh thăm ông ấy một chút. Quan Bộ Lại thấy có tiện không? - Thượng thư Nguyễn Văn Tường ngỏ ý –.&lt;br /&gt;      - Khuôn viên lục bộ này đâu có xa cách gì! Sao lại không tiện nhỉ! Ta cùng đi nhé.&lt;br /&gt;      Hai thượng thư cùng mỉm cười, đứng dậy, bước ra cửa.&lt;br /&gt;      Kinh đô Huế trong những ngày cuối năm nay lại hừng nắng, nắng rất tươi thắm trước vuông sân rộng của Dinh Bộ Hình. Dinh thự Bộ Hình và Bộ Binh toạ lạc gần kế nhau trong khu vực Lục Bộ. Dinh thự Bộ Lại của Nguyễn Tư Giản gần hoàng thành nhất, kế đến: Bộ Hộ, tiếp theo: Bộ Lễ, rồi cách một con đường dọc (con đường từ cửa Thượng Tứ chạy vào đến trường Anh Danh, hồ Tịnh Tâm…), là Bộ Binh. Từ Bộ Binh đi sang Bộ Hình khoảng dăm chục bước. Dinh thự Bộ Hình cận kề dinh thự Bộ Công cũng một quãng cách đều bằng nhau như vậy. Lục Bộ gồm sáu toà nhà chính xếp thành hình chữ nhất (27).  &lt;br /&gt;      Hồi nãy, khi từ Bộ Lại đến Bộ Hình, chiếc kiệu của thượng thư Nguyễn Tư Giản đã đi ngang trước cổng các bộ khác, chỉ mỗi một cổng Bộ Công là khỏi.&lt;br /&gt;      Lúc này, chuẩn bị lên kiệu, Nguyễn Tư Giản còn bày tỏ băn khoăn của mình:&lt;br /&gt;      - Tôi cũng có ý định muốn bàn chuyện với quan Bộ Hình về những tâu báo trong tháng này của sứ bộ Phan Sĩ Thục (28). Tình hình nước Thanh nay cũng chẳng khác gì nước mình. Bọn Tây dương cũng đã gây nổ bùng mâu thuẫn Hán – Mãn để xô đẩy Trung Hoa nhà Mãn Thanh đi đến tệ hại như ngày nay! &lt;br /&gt;      - Thái Bình thiên quốc nổ ra từ năm Tự Đức thứ bảy (1854), thời Cao Bá Quát nổi loạn kia! Đúng là Trung Hoa bây giờ cũng rách nát lắm! Và vấn đề là do các nước Tây dương liên minh với nhau! Các nước Á Tế Á (Asia, Asie), A Phi Lị Gia (Africa, Afrique), Nam Mỹ Lợi Kiên (South America, Sud Amérique) lại bị cô lập hoá và bị li gián. Nhật Bản lại đang xâm lược Cao Ly, Lưu Cầu với chủ trương &lt;em&gt; “chinh Hàn”, “chiếm Lưu” &lt;/em&gt; mặc dù bản thân đất nước Nhật Bản, một đất nước luôn động đất và nghèo kiệt nông sản, khoáng sản, đang bị biến thành bàn đạp cho bọn thực dân da trắng… Thôi, xin quan Bộ Lại để hôm khác. Bây giờ ta cùng sang Bộ Binh thăm quan lớn họ Trần… Ông ta bị bệnh lị mạn tính (29).&lt;br /&gt;      - Sao trông quan thượng Bộ Binh da thịt hồng hào, đỏ đắn đến thế?&lt;br /&gt;      - Cũng chẳng hiểu… Có lẽ nhờ thuốc thang tẩm bổ… Nhưng chúng ta chưa kịp báo trước, đến Dinh Bộ Binh đường đột thế này có nên không?&lt;br /&gt;      - Quan thượng còn nghỉ việc mà. Có lẽ không sao đâu. Mà này, hoàng đế Đại Thanh Đồng Trị vừa mới mất (30), quan Bộ Hình hay tin chưa?&lt;br /&gt;      - Tôi cũng vừa được thông tư. Người lên nối ngôi sẽ là hoàng tử Tái Quát (30).–Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói –. Nhưng quyền lực vẫn trong tay Từ Hy thái hậu! Hẳn không có gì thay đổi…&lt;br /&gt;      Hai người lên kiệu. Họ lại cùng xuống kiệu ở chỗ kế cận bậc tam cấp của tiền sảnh Dinh Bộ Binh.&lt;br /&gt;      Sau một vài phút cho lính vào bẩm báo, hai người thấy quan thượng thư Bộ Binh trong bộ áo quần dài thường phục ra đón tiếp. Họ thi lễ chào nhau.&lt;br /&gt;      - Mời hai đại quan dùng nước. – Quan Bộ Binh nói khi người lính hầu rót nước vào ba chiếc chén –.&lt;br /&gt;      - Hai chúng tôi thật cũng hơi đường đột đến thăm quan thượng thư Bộ Binh…&lt;br /&gt;      - Khách khí mà làm chi! Thật tình tôi rất cảm ơn. Cũng bệnh ốm sơ sơ vậy thôi. Bệnh mạn tính thật rất khó lành hẳn!&lt;br /&gt;      Những câu, những lời chuyện vãn thăm hỏi về sức khoẻ giữa ba người rồi cũng dẫn đến những gì đang khiến họ suy tư, dẫu suy tư ở mỗi người không giống nhau.&lt;br /&gt;      - Ba sắc dụ của đức vua vừa rồi có nhiều phản hồi lắm đó.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường tiếp lời:&lt;br /&gt;      - Nhưng tôi thấy sắc dụ về “phù Lê” và sắc dụ &lt;em&gt; “mở rộng đường ngôn luận” &lt;/em&gt; mới thật gây nên bàn luận sôi nổi. Đây là một nước cờ trên bàn cờ thế.&lt;br /&gt;      - Quả là đúng như vậy: một nước cờ trên bàn cờ thế. Đoạn cuối của sắc dụ phân tích cái “phù Lê”, chính đức vua cũng ngần ngại nhưng rồi đã quả quyết viết.&lt;br /&gt;      - Cơ mật viện – Thương bạc quả tình không dám quả quyết như thế. Sách lược “thoả hiệp với giặc Pháp và “tả đạo”” vừa có khả năng dập tắt những lực lượng xuẩn động ở Bắc Kì và trong cả nước, nhưng cũng có khả năng đổ dầu vào lửa. – Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường nhìn quan họ Trần và nói –. Tôi chỉ đề xuất phân tích cơ sở lịch sử để chứng minh sự chính danh, chính nghĩa của triều Nguyễn ta mà thôi.&lt;br /&gt;      Để chén nước lên đĩa, quan Bộ Lại Nguyễn Tư Giản băn khoăn:&lt;br /&gt;      - Những phiên họp sau tôi không họp, vì đã có chỉ dụ cho tôi thôi sung vào Viện – Bạc. Tuy nhiên, trong phiên họp khởi sự bàn việc này lại có tôi. Tôi vẫn nghĩ việc nói huỵch toẹt ra là triều đình ta mượn tay Pháp để tiêu diệt bọn “phù Lê” (cùng các loại hải tặc, thảo khấu, giặc Cờ) như thế sẽ khiến sĩ dân căm phẫn… Nhưng điều khoản thứ tư “hoà” ước Nhâm tuất (1862), điều khoản thứ hai “hoà” ước Giáp tuất (1874), chẳng đã viết thế là gì! Và thương ước Giáp tuất cũng thể hiện điều đó.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường gật đầu, và ông nói:&lt;br /&gt;      - Phải hiểu đó là một nước cờ trên bàn cờ thế. Tình huống như vậy ắt đành phải vậy. Mong sĩ dân hiểu rõ tình hình. Tôi vẫn ngại về sau, hậu thế sẽ nguyền rủa Cơ mật viện – Thương bạc.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành vốn là một người chủ “hoà”, ông ta nhếch mép:&lt;br /&gt;      - Đã dấn thân vào Viện – Bạc là phải chịu trách nhiệm. Bốn vị đại thần Viện – Bạc đều gánh chung trách nhiệm ấy, và còn có cả đình thần lục bộ… Thời thế đã thế thì phải thế!&lt;br /&gt;      Viện – Bạc đại thần Nguyễn Văn Tường thật lòng thấy rõ những ý kiến của ông trong các tập tâu kí tên chung là “Viện – Bạc” chỉ là một trong bốn, và dẫu sao Viện – Bạc đại thần Trần Tiễn Thành vẫn cầm trịch, khuynh loát! Nhưng ông (Nguyễn Văn Tường) cũng đâu phải thuộc hạng người dám dấn thân lại không dám chịu trách nhiệm!&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường liền cố chuyển câu chuyện sang việc thăm hỏi sức khoẻ. Quan Bộ Lại Nguyễn Tư Giản hiểu ý, cũng tỏ lời mong sức khoẻ thượng thư họ Trần sớm hồi phục một cách xã giao.&lt;br /&gt;      Lát sau, thấy bóng nắng ngoài sân đã gần chiếu thẳng đứng, mực nước đồng hồ trong phòng khách tiền sảnh cũng chỉ rõ đang giữa giờ tị (10 giờ), hai người ngỏ lời chào quan Bộ Binh. Họ cùng bước ra hành lang, thi lễ chào nhau lần nữa để tiễn chân và cáo từ. Mỗi người vẫn suy tư một cách khác nhau trước đại cuộc, nhưng hẳn hai vị quan họ Nguyễn, một Nguyễn ở Bắc, một Nguyễn ở Trung, khác xa với quan họ Trần, người Minh Hương!&lt;br /&gt;      Trong khi quan Bộ Binh còn đứng trên hành lang, hai vị thượng thư Bộ Hình và Bộ Lại đã bước xuống sân, đi đến kiệu của mình. Nguyễn Tư Giản nói khi tới gần chiếc kiệu của Nguyễn Văn Tường:&lt;br /&gt;      - Mười mấy năm trước, khi Pháp bắt đầu đánh ta, quân ta sau những trận thắng lại bị bại nặng nề, tôi đã khẩn thiết dâng sớ xin triều đình vẫn chủ chiến, nhưng bấy giờ, tôi đã bị hai thượng thư Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản trách là &lt;em&gt; “không so sánh sự lí” &lt;/em&gt;. Sau đó, phỉ đánh quân của Nguyễn Dũng ở huyện Cẩm Giàng, quân vỡ; chúng vây sát thành tỉnh Hải Dương, phải dâng sớ cáo cấp; tôi bị đức vua mắng là &lt;em&gt; “Nguyễn Tư Giản chỉ nói khoác” (31) &lt;/em&gt;… Nay, tình thế đã vậy, chỉ còn biết phải canh tân. Năm hết Tết đến rồi, tôi định ra năm mới, sẽ làm tờ tâu dâng lên vua mười sáu tập sách Tây dương để mong vua ban dụ cho Ti Hành nhân của Nha Thương bạc ta dịch ra chữ Hán, chữ Nôm. Chỉ sợ là các hành nhân thông ngôn không dịch nổi! – Quan Bộ Lại nói –. Phải cầm cự, hoà hoãn và phải canh tân Đất nước, không còn cách nào khác.&lt;br /&gt;      - Đó những cuốn gì vậy? Thật là quá tốt. Tôi và Nguyễn Tăng Doãn cũng đã tiến dâng một số, khi từ Gia Định về.&lt;br /&gt;      - &lt;em&gt; “Võ bị xưa nay”, “Ngữ pháp tiếng Pháp”, “Tập hợp những chính yếu về binh thư”, “Thuật lặn dưới nước”, “Thuật chế đạn công phá và phát hoả”, “Phương pháp bắn súng trên lưng ngựa”, “Luật quân đánh bộ”&lt;/em&gt; và &lt;em&gt; “Thao luyện kị binh” (32) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      - Đều là sách hay và rất cần thiết. Nhưng ở đâu mà Bộ Lại tìm kiếm được?&lt;br /&gt;      - Các quan tỉnh và sĩ dân tiến dâng lên vua.&lt;br /&gt;      - Thật rất đáng trân trọng!&lt;br /&gt;      - Thôi, bái biệt quan Bộ Hình. Ngày mai dự thiết triều, ta lại gặp nhau.&lt;br /&gt;      Hai người chia tay, mỗi vị lên kiệu của bộ mình.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn xác định rõ, ông không sợ trách nhiệm trong nước cờ lịch sử này, nhưng ông vẫn khẳng quyết &lt;em&gt; “hoà là cơ nghi”, “chiến là tiên quyết và hậu quyết” &lt;/em&gt;, không thể khôi phục lại một phần chủ quyền của triều đình và lấy lại lục tỉnh Nam Kì bằng “hoà” nghị được! Ông cũng thường tự trào về mình: &lt;em&gt; “Dĩ thần bất tài, giảng thuyết chiến hoà tam quốc sự; Duy quân sở mệnh, khi khu sơn hải thất niên gian” (Vì kẻ bầy tôi bất tài, nên mới giảng nói việc chiến hoà ba nước; Chỉ nhà vua với mệnh lệnh sẵn có, cam đành dằn xóc chốn núi biển bảy năm) (33) &lt;/em&gt;! “Hoà” là việc bất đắc dĩ! “Hoà” và cứ “hoà” mãi, không canh tân về công nghệ, không chấn chỉnh binh lực, sẽ mất dần chủ quyền, mất dần nhân dân và Đất nước! Nếu cứ “hoà” và chỉ “hoà” như Trần Tiễn Thành thì viễn cảnh nộ lệ vào bọn Pháp và “tả đạo” ngoại xâm ấy sẽ không xa! Thật chua xót!&lt;br /&gt;      Trưa hôm ấy, mãi cho đến khi dùng bữa xong, thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn không thôi nghĩ ngợi về những lời tâu trình của chánh sứ sang nước Thanh Phan Sĩ Thục, khi sứ bộ đã về, vào bái tạ vua Tự Đức. Những tâu trình ấy, thượng thư Nguyễn Tư Giản và ông cũng như các đại thần chính khanh, á khanh đều có trực tiếp nghe, cũng đã cùng nhau bàn luận. Vừa rồi, Nguyễn Tư Giản lại nhắc đến với nỗi băn khoăn khi hai người đã sắp chia tay, lên kiệu tại sân Bộ Binh. Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường không thể nào quên được tình hình nước Thanh qua lời chánh sứ Phan Sĩ Thục mới cách đây không bao lâu, chỉ ít hôm, cũng trong tháng chạp Ất hợi (1875) này.&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Đến khi bọn Sĩ Thục vào tạ, vua nhân hỏi rằng:&lt;br /&gt;      - Nước Thanh xử trí với nước Tây thế nào? Và chính sự của vua Đồng Trị, quan lại được hay hỏng thế nào? Thế nước có thịnh không?&lt;br /&gt;      [Phan Sĩ] Thục thưa rằng:&lt;br /&gt;      - [Tâu hoàng thượng,] nước Thanh đối với người Tây, chia đất cho ở [:nhượng địa]. Trấn Hán Dương, chỗ người nước ngoài ở có lập bia đá, khắc chữ: “Đại Anh quảng long địa giới”. [Bọn Tây dương cũng đã] làm nhà để ở. Chỗ ở [của chúng] đều dựng hiệu cờ để phân biệt. Tổng đốc Hồ Bắc là Lý Hàn Chương làm thông thương đại thần, để thông đi lại. Phủ thành Chính Định có nhà thờ đạo [Thiên Chúa] ở trong thành. [Tại kinh đô] Yên Kinh cũng vậy. [Về phản ứng của] sĩ phu, không nghe có lời bàn ngang. Người có kiến thức, [thảng] hoặc có người bảo rằng: Vua Đồng Trị tuổi còn ít, lại thêm vài mươi năm nay, quân mỏi mệt, của [cải] sút kém; tạm hãy chịu [tình trạng như vậy] để hồi hộ [:che chở, bênh vực cho…]. [Vua Đồng Trị] gần đây đã sắc xuống cho quân cơ sửa soạn phương lược dẹp yên ở Giang Tô, lại mở Cục Kĩ xảo [Cục Kĩ nghệ]. Các tỉnh [, vua nhà Thanh] sai tập súng Tây, lúc nào cũng tự cố gắng. [Ngoài ra,] còn như xử trí với người Tây ấy, ở chỗ quân cơ, bọn thần không nghe thấy. Vua Đồng Trị từ khi [đích] thân coi việc nước đến giờ, chính sự thì hết thảy tuân theo điển lệ trước, chuyên dùng bầy tôi cũ. Quan lại thì từ năm Hàm Phong đến giờ, đường làm quan phức tạp, tham nhũng nhiều; mà đời sống của dân ngày càng quẫn bách; quyên nộp [:đóng tiền để nhận chức sắc, phẩm hàm, thường là hư vị, hư hàm] sinh ra tệ [đoan].&lt;br /&gt;      [Vua Tự Đức] hỏi về tổng đốc các tỉnh.&lt;br /&gt;      - [Tâu, về tổng đốc các tỉnh] thì Lý Hồng Chương ở Trực Lệ, Tôn Thất Đường ở Thiểm Cam, đều là tướng có nho học. Lí Hãn [Hàn?] Chương ở Hồ Quảng thì là người trầm tĩnh có mưu cơ. Lưu Trường Hựu là tuần phủ Quảng Tây thì nghiêm trọng mà am hiểu việc hàng [ngũ] trận [mạc]. [Các vị đó] cùng Đan Mậu Khiêm ở Bộ Binh, Vạn Thanh Lê ở Bộ Lễ, đều là bề tôi có danh tiếng. [Chúng thần] lại nghe nói giặc ở Cam Túc làm hại đã hơn mười năm, chuyên do Tả Tôn Đường trù tính. Mùa đông năm ngoái, đã dẹp yên. Hiện nay bốn phương không xảy ra việc gì. Và dọc đường bọn thần đi, [có lưu tâm] xem về đại thế, đến khi [sứ bộ đã tới] ở Yên Kinh, [lại] xem các nhật báo [để đối chiếu], [thì thấy] đại khái của dùng trong nước hơi thiếu, nhưng sức quân vẫn mạnh. Còn như việc ở nơi quân cơ, bọn thần không thể biết được.– [Chánh sứ Phan Sĩ Thục lặp lại lần thứ hai câu cuối lời tâu] –.” (28) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Sau một lát chợp mắt nghỉ ngơi giấc trưa, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại chuẩn bị áo mão để lại ra công đường làm việc. Tình hình nước Thanh cũng đau xót đến thế, phải chấp nhận nhượng địa và &lt;em&gt; “tự do truyền bá “tả đạo”” &lt;/em&gt;, những điều mà trước đây nhà Thanh nước Trung Hoa, cũng như các nước châu Á Tế Á khác, như Triều Tiên, Nhật Bản chẳng hạn, đã quyết liệt chống lại. Nhưng phải thấy rõ là nước Thanh đang cố gắng luyện quân với súng ống Tây dương, đang mở Cục Kĩ xảo (công nghệ cơ khí). Nước Thanh đang “hoà” để thủ, trong việc thủ, có cả việc tự ra sức khởi phát, chấn hưng quân đội và công nghệ theo phương hướng &lt;em&gt; “Tây học vi dụng, Đông học vi thể” &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường tự bảo, lẽ nào nước Đại Nam ta cứ mãi bảo thủ trước công cuộc canh tân, tăng cường nội lực quân đội và khoa học – kĩ thuật?&lt;br /&gt;      Từ công đường, ông nhìn ra khoảng trời mùa đông cuối năm đang sáng rực nắng chiều. Ông hi vọng vào mùa xuân mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hết tệp 9 &lt;br /&gt;(phân đoạn 1 truyện kí thứ 8) &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Khởi viết truyện kí thứ tám này&lt;br /&gt;vào lúc khoảng 07 giờ sáng,&lt;br /&gt;ngày 17.11.2002 (13.10 Nh. ngọ, HB.2).&lt;br /&gt;Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 8 lúc 16 giờ kém 10 phút,&lt;br /&gt;ngày 30.11.2002 (24.10 Nh. ngọ, HB.2).&lt;br /&gt;Sữa chữa xong vào lúc 15 giờ 24 phút,&lt;br /&gt;ngày 04.12.2002 (01.11 Nh. ngọ, HB.2). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;            &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 33, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1975, tr. 161.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(2) Quốc sử quán triều Nguyễn và Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), bản dịch: Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb. Tp. HCM., 1993, tr. 240.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(3) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 128 – 129.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(4) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 309 – 310.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(5) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 198; QTHKL., sdđ., 1993, tr. 338.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(6) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 136.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(7) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 127.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(8) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 129.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(9) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 132 – 133.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(10) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 31 – 32.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(11) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 131 – 132.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(12) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 44.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(13) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 132 – 133, 142 – 143, 153 – 157. Bản dụ về binh lính xuất thân từ Bắc Kì như sau: &lt;em&gt; “Binh chế nước ta, từ Quảng Bình trở vào Nam, hoặc ba (03) đinh lấy một (01), hoặc năm (05) đinh lấy một (01); trở ra Bắc thì bảy (07) đinh chỉ lấy một (01); chước lượng từng nơi [mà] giảm ngạch, không cầu lấy nhiều; thực muốn quân lính giỏi mà sổ quân [:quân số] đầy đủ. Thế mà quân Miền Bắc phần nhiều lười nhát, sổ quân cũng không đầy đủ, lại không bằng quân Miền Nam có thể dùng được. Như thế có phải là phép chưa tốt, hay là dùng quân chưa được người chăng? Trước kia, đời nhà Đinh định ra quân thập đạo, quân không kém một trăm vạn (1.000.000); đời nhà Trần biên đinh tráng làm quân, mà châu Hoan, châu Diễn đã đến mười vạn (100.000). Ngạch quân nhiều so với ngày nay gấp mấy, thế mà lúc bấy giờ, gọi là mạnh mẽ, ít nghe thấy trốn tránh. Tướng quân ở thập đạo, nhân đấy để phá quân nhà Tống, mà lòng quân không lìa bỏ; các tướng đời trùng hưng dùng để dẹp quân nhà Nguyên, mà các quân đều còn cả. Ai bảo là quân Miền Bắc không thể dùng được ư? Gần đây nghe nói cái tệ cuả quân ngoài Bắc có nhiều cớ: hương lí thì hạn năm lập ra khoá [tuyển quân], tha người giàu, sai người nghèo; quản suất thì [thông đồng với hương lí] đưa [người nghèo bị bắt ép ấy] vào hàng ngũ, mong [cho] đi đóng đồn, sách nhiễu trăm đường; lại có tệ tha cho [kẻ hối lộ] về nghỉ, có tệ đội tên người khác [tức người được thuê đi lính thay]. Huống chi từ quản suất trở lên, tiêu phí [thì] bắt lính cung cấp, mà kĩ nghệ tập [luyện] hay không tập [luyện] chẳng hỏi đến. Quân không huấn luyện sẵn, đến khi đánh giặc sao khỏi không thua? Bảo rằng không phải người làm ra tệ ư? Nếu nắm được điều cốt yếu, thì tệ nào chẳng trừ được. Hiện nay các tỉnh ở Bắc Kì, tổng đốc, tuần phủ đều có trách nhiệm [trẫm] giao phó cho ở ngoài biên giới [tiễu phỉ (giặc Cờ)], trẫm đương uỷ dụng, bắt phải làm cho thành công. Quân lính như thế, không từng để ý trù nghĩ, chấn chỉnh, thì lúc ngày thường cùng với ai mà giữ, lúc có việc cùng với ai mà đánh? Việc xảy ra ở Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định về muà đông năm ngoái [Ất dậu, 1873, Françis Garnier tấn công, bốn tỉnh Bắc Kì thất thủ], vết xe đổ đáng làm gương, mà há không sờn lòng ư? Nay cho các quan tổng đốc, tuần phủ, đề đốc, bố chính, án sát, lãnh binh các tỉnh Bắc Kì phải hết lòng bàn tính thế nào để chấn chỉnh một phen, có thể đổi hết thói tệ, chuyển thành quân tinh nhuệ, trẫm đều cho hết sức làm, cốt khiến cho quân lính vui lòng làm việc, sổ sách thường đầy đủ, đi đến đâu có công đến đấy, dẹp yên trộm cướp. Vài năm hay chẵn tháng, quả có thực hiệu, thì trẫm ban ơn khen thưởng hậu, không có tiếc gì. Nếu chỉ đặt lời nói hão, noi theo thói tệ, khiến cho ngày càng bỏ bễ, thì phạt nặng theo liền, quyết không tha thứ”! (sđd., tr. 142 – 143) &lt;/em&gt;. Tuy vua Tự Đức không trực tiếp bàn về nguyên nhân binh lính có nguyên quán Bắc Kì lười nhát, trốn tránh việc quân trong bản dụ này, nhưng rải rác ở các đoạn Thực lục khác, ta thấy rõ: Sở dĩ thực trạng quân lính Đàng Ngoài như thế là do hậu quả Trịnh – Nguyễn phân tranh suốt hai trăm năm, cụ thể là, phân biệt đối xử (hạn ngạch, tức là tỉ lệ ấn định, lấy đỗ tú tài, cử nhân ở Đàng Ngoài có phần bị khống chế, so với hạn ngạch ở Đàng Trong; quan chức dân chính và quân đội ở Đàng Ngoài đại đa số cũng là người Đàng Trong…), dẫn đến sự bất bình, thậm chí là phẫn nộ ở Đàng Ngoài. Do đó, khuynh hướng “phù Lê”, “tả đạo” càng có điều kiện xấu để nẩy sinh, kéo dài dai dẳng. Mặt khác, cũng do Đàng Ngoài, nhất là kẻ sĩ Bắc Hà, không ít là con cháu cựu thần Lê – Trịnh, vốn kiêu mạn, luyến tiếc thời vàng son xưa một cách phi lí, “nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia” một cách hết sức phản động &lt;em&gt; (“Thăng Long thành hoài cổ”, “Qua đèo Ngang”…)&lt;/em&gt;, nên triều Nguyễn không tin dùng &lt;strong&gt;(13*)&lt;/strong&gt;. Phải thấy rõ tác động qua lại, làm thành hệ quả dây chuyền lẩn quẩn một cách rất tại hại, từ các khía cạnh tiêu cực cuả cả hai phía (triều đình Huế và nhân dân Đàng Ngoài), dẫn đến hậu quả đáng tiếc, đáng giận trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(14) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 147 – 148.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(15) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 137 – 138.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(16) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 149 – 150.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(17) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 165 – 166.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(18) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 175 – 176.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(19) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 172 – 174.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(20) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 136 – 137.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(21) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 172 – 173.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(22) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 140.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(23) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 140.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(24) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 153 – 157.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(25) Trần Xuân An (biên soạn [chú thích, dịch thơ…]), Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. &amp; TT.), Trần Viết Ngạc sưu tầm, giới thiệu, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển dịch thơ, giới thiệu, Nguyễn Tôn Nhan dịch nghĩa, TS. Ngô Thời Đôn hiệu đính, TS. Võ Xuân Đàn, GS. Đoàn Quang Hưng khảo luận sử học, bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản), bài thơ số 53, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch thơ của Trần Xuân An, tr. 317 – 323. Nhân đây, xin lưu ý: Tác giả (tôi, TXA.) không khẳng quyết thân phụ của Lê Đình Dao có nhận định như thế về phong trào Tây Sơn nói chung, Quang Trung Nguyễn Huệ nói riêng. Đó chỉ là sự suy đoán, có thể xem như một chi tiết hư cấu. Cũng xin nói lại cho rõ: Nguyễn Huệ là một nhân vật lịch sử vĩ đại, vì hai lí do sau đây: ((a)) Nguyễn Huệ đã đáp ứng được yêu cầu lịch sử bức thiết, đó là yêu cầu thống nhất hai miền Đất nước (Đàng Trong – Đàng Ngoài); ((b)) Nguyễn Huệ là lực lượng thứ ba (lực lượng trung gian), đập tan được hai lực lượng Trịnh và Nguyễn, vốn đối nghịch nhau, gây nên cuộc chiến tranh tàn khốc “Trịnh – Nguyễn phân tranh”; đó cũng là yêu cầu lịch sử về lực lượng cầm quyền sau khi hàn gắn vết thương sông Gianh, thống nhất hai Đàng (bởi lẽ, nếu chuá Trịnh đánh tan chuá Nguyễn, nhân dân Đàng Trong sẽ bị đàn áp, trả thù; ngược lại, nếu chuá Nguyễn đánh tan chuá Trịnh, nhân dân Đàng Ngoài sẽ bị trả thù, đàn áp). Xin xem thêm bài thơ &lt;em&gt; “Sáng tháng giêng ở gò Đống Đa” &lt;/em&gt; (phần cuối sách). Tuy vậy, với quan điểm lịch sử – cụ thể, về công lao khai phá đất phương nam, vai trò lịch sử của chín (09) chuá Nguyễn và sáu (06) vua Nguyễn thời chính triều (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi), tôi không hề phủ nhận và cũng thể phủ nhận. Tôi cũng khẳng định: vai trò lịch sử của triều Nguyễn đã thật sự chấm dứt, thậm chí trở thành phản quốc, là từ ngày Đồng Khánh lên ngôi cho đến ngày Bảo Đại phải thoái vị (ngụy triều nhà Nguyễn: 1885 – 1945).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(26) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 141.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(27) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC.), tập 1, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 56 – 58.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(28) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 146 – 147.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(29) Nguyễn Đắc Xuân (biên soạn), Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành, bài của Đào Duy Anh trong Bulletin des amis du vieux Huế (1941), Bùi Trần Phượng dịch, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 25.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(30) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 157.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(31) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974, tr. 59 – 60, 307.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(32) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 164.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(33) Câu đối của Nguyễn Văn Tường do nhà thơ Lương An sưu tầm. Xin xem: KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. &amp; TT., bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản), bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần Xuân An, tr. 77 – 79.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Soạn xong phần chú thích&lt;br /&gt;vào lúc 19 giờ 24 phút,&lt;br /&gt;ngày 06.12. 2002 (03.11 Nh. ngọ HB.2). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Phụ chú của chú thích 13 thuộc truyện kí thứ tám:&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(13*) [a] Xin đừng hiểu Bà huyện Thanh Quan đồng cảm với những người Chăm (““chợ” mấy nhà”), khi dừng bước ở Đèo Ngang, vốn là biên giới Đại Việt – Chăm-pa thuở nào. Cũng đừng đẩy xa ý tưởng đó, rồi cho rằng, người Đàng Ngoài với người Chăm có chung một kẻ thù là các chuá Nguyễn, vua Nguyễn, khi cảm nhận hai câu luận và hai câu kết của bài &lt;em&gt; “Qua Đèo Ngang” &lt;/em&gt;:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Nhớ nước, đau lòng con quốc quốc&lt;br /&gt;Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia&lt;br /&gt;Dừng chân đứng lại: trời, non, nước&lt;br /&gt;Một mảnh tình riêng, ta với ta&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Đặc biệt là câu thơ “một mảnh tình riêng, ta với ta”! Ấy chỉ là cảm xúc khi chỉ còn mình đối diện với chính mình trong nỗi cô đơn. Cũng đừng đẩy xa hơn nữa ý tưởng đó, để kết luận Bà huyện Thanh Quan vốn có gốc gác là Chăm, tuy không ít người Đàng Ngoài đích thực là người Việt gốc Chăm (người Chăm phải ra Đàng Ngoài nhập cư, từ thời Lý đến thời Nguyễn*).&lt;br /&gt;      Tôi nghĩ thi sĩ đài các, trang trọng rất mực trong ngôn từ thơ ca này có thể bị ám ảnh về biên giới lịch sử bởi câu sấm kí của Trạng Trình: “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân” (Đèo Ngang một dải vạn đời dung thân), khi chuá Nguyễn Hoàng đến xin gặp Trạng Trình để tham khảo ý kiến. Mặc dù trong thực tế, sông Gianh mới là biên giới Đàng Trong – Đàng Ngoài, nhưng trong tâm thức người Đàng Ngoài, Hoành Sơn (Đèo Ngang) mới là biên giới có tính lịch sử.&lt;br /&gt;     Phải liên hệ với các bài thơ khác của Bà huyện Thanh Quan, nhất là “Thăng Long thành hoài cổ”, khi cảm thụ “Qua Đèo Ngang”.&lt;br /&gt;     Chữ “quốc” vốn có nghĩa là “[Đất] nước” (Tổ quốc, quốc gia), nhưng dưới chế độ phong kiến, người ta bị nhồi sọ, đồng nhất Đất nước, Tổ quốc với một triều đại do một hoàng tộc trị vì, do đó “quốc” cũng có nghĩa là “triều đại” (quốc tính [:họ của vua, của hoàng tộc], quốc thích [bên ngoại hoặc bên vợ của vua]…)! Hoặc, có người đồng nhất Tổ quốc, quốc gia với kinh đô của một triều đại hay của những triều đại nối nhau đóng đô ở đó. Nguyễn Du có câu thơ: &lt;em&gt; “Thập tải phong trần khứ quốc xa” (Mười năm gió bụi rời khỏi kinh thành xa xôi) &lt;/em&gt; (U cư, Thanh Hiên thi tập). Hai câu thơ của Bà huyện Thanh Quan trong bài “Qua đèo Ngang”, &lt;em&gt; “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc; Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” &lt;/em&gt;, rõ ràng là thể hiện nỗi lòng hoài Lê, đồng nhất triều đại Lê – Trịnh với Thăng Long (Hà Nội), với Tổ quốc (mặc dù sĩ dân Bắc Hà đều biết thể chế vua Lê bù nhìn, ươn hèn và chúa Trịnh lấn bức, chuyên quyền là một biến thái phi đạo lí).&lt;br /&gt;     Để có một ý niệm rõ ràng hơn về giai đoạn lịch sử cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, xin liên hệ với thơ văn của một số ít văn nghệ sĩ Miền Nam (1954 – 1975 – 2004) thuộc dạng “hoài cổ”, nhất là các nhà văn, nhà thơ Việt kiều lưu vong thuộc “trường phái” đó hiện nay (1975 – 2004), ở Mỹ và ở các nước Âu Mỹ khác. Họ cũng dùng từ “mất nước” (vong quốc) một cách rất trái ngược!!! Xin nhấn mạnh, không phải văn nghệ sĩ Miền Nam, Việt kiều nào cũng “hoài cổ”. Tuy nhiên, trong số ít đó, &lt;strong&gt;&lt;em&gt;có nhiều cây bút thật sự có tài và cũng không phải không có tri thức sử học (cỡ như Phạm Thái, Bà huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát và một số người chạy theo Lê Chiêu Thống…)&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;. Tôi xin rút ra một kết luận: Vấn đề không phải là tri thức, tài năng, mà chính là tâm thế cá nhân, quan điểm có tính chủ quan của người sáng tác. Tâm thế, quan điểm lại do chỗ đứng và quyền lợi quy định hoặc do sức-ép-bên-ngoài-bản-thân chi phối. Chỗ đứng và quyền lợi lại bị trói buộc bởi hoàn cảnh bản thân, gia đình, vốn bị cuốn theo trong cơn bão táp lịch sử, hoặc do sự tự chọn lựa trước tình huống lịch sử. Mặc dù vậy, tôi không có ý đánh đồng và cũng không thể đánh đồng bản chất vết thương sông Gianh (nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến đồng bào) với vết thương sông Bến Hải (chiến tranh chống thực dân, đế quốc Pháp – Mỹ, “tả đạo”…). Trong hai trường hợp này, chân lí và sự thật lịch sử hoàn toàn (hay ít nhiều) trái ngược với cái gọi là “chân lí và sự thật lịch sử” trong tác phẩm văn nghệ. Các tác phẩm ấy chỉ phản ánh trung thực tâm trạng của các tác giả cùng một bộ phận nhân dân thất thế, suy vong, và tiếc thay, lại cuồng trung với triều đại, chế độ ươn hèn, phi nghĩa, lưu vong! Nói theo Karl Marx khi ông nhận định về A. M. L. de Lamartine, đó là những &lt;em&gt; “kẻ phản động có lời thơ tao nhã” &lt;/em&gt;, hoặc một ai đó hay nói: &lt;em&gt; “tiếng thơ của giai cấp suy tàn” &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Nhìn riêng về văn học Đàng Ngoài giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, ai cũng biết có một bộ phận rõ ràng là đại biểu của tiếng thơ, giọng văn thuộc về giai cấp quý tộc Đàng Ngoài suy tàn. Tuy nhiên, khác với họ, lịch sử Việt Nam và thế giới đã cho thấy những nhà văn, nhà thơ, kể cả nhà sử học, triết gia đã thoát li khỏi giai cấp, thành phần xuất thân để phản ánh trung thực thời đại: Karl Marx, F. Engels, Nguyễn Huy Lượng, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Khuyến, kể cả Nguyễn Du (qua Truyện Kiều, vẫn khẳng định tính chính thống của triều Nguyễn), và Phan Huy Vịnh (dịch giả Tì bà hành)… Đó là những nhân vật lịch sử, triết gia, thi sĩ, dịch giả tiêu biểu cho khuynh hướng tiến bộ, tích cực, tuy mỗi người đều có những hạn chế do bản thân hoặc do thời đại quy định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(13*) [b]  Không phải chỉ khi đề cập đến Gia Long (Nguyễn Ánh), mới cần nhận thức theo quan  điểm lịch sử - cụ thể, nhưng không thể không nhấn mạnh như thế khi cần làm sáng tỏ, thoả đáng thêm về vấn đề này.&lt;br /&gt;      Chủ quyền Đất nước dưới chế độ quân chủ cũng là một hình thức quan hệ sở hữu phong kiến (Đất nước và thần dân là tài sản và tôi tớ của hoàng tộc cầm quyền, nối đời thừa kế). Do đó, Nguyễn Aằnh (Gia Long) đánh đổ triều Tây Sơn (ba anh em Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Toản) là để giành lại cái gọi là quyền sở hữu Đất nước Đàng Trong và thần dân của dòng họ mình, và thừa kế luôn cả Đàng Ngoài mà dòng họ ông ta có công trung hưng (vai trò công thần của Nguyễn Kim). Chủ quyền Đất nước và nhân dân được xác lập theo quan hệ sở hữu phong kiến về tài sản và nô bộc là một quan niệm phản động, cực kì phản động, nếu đứng ở giác độ dân chủ để phê phán. Tuy nhiên, ở cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Ánh vẫn chính nghĩa theo quan niệm phong kiến! Và cũng cần khẳng định rõ: mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và cố đạo thực dân Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) chỉ là quan hệ lợi dụng lẫn nhau mà thôi! Sau khi nắm được ngai vàng hoàng đế, chính Gia Long (Nguyễn Ánh) đã hạn chế sự bành trướng Thiên Chúa giáo! Như thế, trên cơ sở đó, có thể có một nhận định: Quang Trung (Nguyễn Huệ) đáp ứng được yêu cầu bức thiết của lịch sử là phải thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài (mặc dù công lao ấy phần nào còn bị hạn chế do tình trạng tam phân giữa ba anh em Tây Sơn). Tuy nhiên, Gia Long (Nguyễn Ánh) không phải không chính nghĩa, xét theo quan hệ sở hữu phong kiến về vương quốc, thần dân; và Gia Long còn kế thừa cả sự nghiệp thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài của Quang Trung một cách tốt đẹp. Đó không phải là một nhận định "ba phải", mà xét trên cơ sở sự thật lịch sử và xét theo quan điểm cụ thể - lịch sử tiên tiến, khoa học nhất của chúng ta, trong thời đại dân chủ hiện nay. Mặc dù đối với chúng ta hiện nay, chế độ phong kiến nói chung (chứ không phải chỉ riêng triều Nguyễn) vốn đã trở nên quá lạc hậu, cực kì phản động, "một đi, không bao giờ trở lại", nhưng cũng phải công bằng, thỏa đáng trong việc nhận định lịch sử.&lt;br /&gt;      Nói một cách giản dị, Nguyễn Ánh không dễ dàng gì để mất vào tay Tây Sơn sự nghiệp suốt hai trăm năm của dòng họ ông ta. Đó là sự nghiệp chín chuá Nguyễn đã lãnh đạo nhân dân Đàng Trong khai phá đất phương nam, từ Phú Yên đến Cà Mau!&lt;br /&gt;      Cũng nói một cách giản dị, nếu lấy tiêu chí dân chủ hiện nay, nhất là dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực sở hữu ruộng đất (sở hữu toàn dân hay còn gọi là công hữu), để nhận định về chế độ phong kiến quân chủ ... rồi trách cứ, thì chẳng khác nào trách cứ sao Nguyễn Du không sáng tác Truyện Kiều trên máy vi tính và phát hành trên mạng VnExpress hoặc Cinet! Nhưng có người sẽ vặn lại tôi: Đâu rồi quan điểm so sánh đồng đại? Từ năm 1848, giữa thế kỉ XIX, Karl Marx và Fridrich Engels đã xuất bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản kia mà! Tôi chỉ biết bảo người ấy nhìn ra thế giới ngay vào thời điểm này: Hiện còn bao nhiêu nước theo chính thể quân chủ lập hiến (lập hiến nhưng vẫn còn vua chuá!)? Còn năm 1848, cách thời điểm Gia Long lên ngôi (1802) đến bốn mươi sáu (46) năm! Nếu chọn thời điểm so sánh tương đồng, phải là 1789, năm cách mạng tư sản Pháp nổ ra và cũng là năm Quang Trung đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, triều đại vua Lê - chuá Trịnh hoàn toàn tiêu tan; và lúc đó, Nguyễn Ánh vẫn còn trường kì chiến đấu khôi phục. Nhưng cách mạng tư sản Pháp tồn tại không bao lâu; rồi chính giai cấp phong kiến Pháp cũng xé toạc Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân quyền 1789 * để phục hồi đế chế quân chủ! Vả lại, nên hiểu giới hạn tầm nhìn thời bấy giờ, cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, trong điều kiện chung là thông tin liên lạc còn hạn chế. Do đó, giới hạn tầm nhìn thời bấy giờ là chỉ trong phạm vi khu vực Đông Nam Aằ và rộng hơn, là phạm vi châu Á... Hơn nữa, tầm nhìn còn bị quy định bởi bao nhiêu điều khác, nhất là nền tảng dân trí toàn xã hội! Hiểu như thế, mới thật là lịch sử - cụ thể. Không nên kéo lùi lịch sử hiện tại vào sự lạc hậu (tụt hậu), cũng không nên cưỡng bức lịch sử quá khứ phải thật dân chủ xã hội chủ nghĩa về quyền sở hữu Đất nước, tức là quyền làm chủ Đất nước (đúng nghĩa là dân chủ đích thực, chứ không phải trò lừa từ ngữ *)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;[* Đây không phải chỗ để đề cập đến các quyền dân chủ cụ thể khác, về chính trị, xã hội, văn hoá...].&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Ngoài ra, tưởng cũng cần nhắc lại một nhận định xác đáng và công bằng của nhiều nhà nghiên cứu sử học về Gia Long Nguyễn Ánh: Ông là một con người có nghị lực mạnh mẽ, vị vua sáng nghiệp từ hai bàn tay đã trắng (có khi quân lính không còn một đội, lương thực không có để dùng). Ông chỉ có một điều kiện thuận lợi, ấy là lòng trung thành của nhân dân Đàng Trong đối với các chuá Nguyễn tiền bối.  &lt;br /&gt;      Ở chú thích này, tôi chỉ nhấn mạnh đến nghị lực mạnh mẽ hay còn gọi là đức tính kiên cường của Nguyễn Ánh, nhất là sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, từ Nam Quan đến Cà Mau. Và khi so sánh tổng bí thư Lê Duẩn với Quang Trung, Gia Long ở ba khía cạnh đó, tôi hiểu "so sánh nào cũng có sự khập khiễng".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;[ 2 phụ chú này vốn là chú thích số 7b và 11 ở bài thơ SÁNG THÁNG GIÊNG Ở GÒ ĐỐNG ĐA – TXA. ]&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;04.HB3  &lt;br /&gt;&amp; 26.02.HB4 (07.02 G. thân HB4).&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;TXA.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HẾT TỆP 9 &lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 1 TRUYỆN KÍ THỨ 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin xem tiếp TỆP 10&lt;br /&gt;(phân đoạn 2 truyện kí thứ 8)&lt;br /&gt;thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/19823518-113471964243827203?l=tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/feeds/113471964243827203/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=19823518&amp;postID=113471964243827203' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113471964243827203'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113471964243827203'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/2005/12/ph-chnh-i-thn-nguyn-vn-tng-tp-ii-b-9.html' title='PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 9)'/><author><name>Phan Huyên Đình (Trần Xuân An)</name><uri>http://www.blogger.com/profile/04366565891846379473</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='21' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger/3234/1819/1600/A%203.1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-19823518.post-113446564670105322</id><published>2005-12-13T00:46:00.000-08:00</published><updated>2006-01-07T14:48:16.776-08:00</updated><title type='text'>PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 8)</title><content type='html'>Tệp 8 - Tập II  Blog B&lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 8, TRUYỆN KÍ THỨ 7)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sẽ đăng trên &lt;strong&gt;Tạp chí điện tử Giao Điểm&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;số tháng 12-2005&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm"&gt; http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”&lt;br /&gt;VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,&lt;br /&gt;GIÁP TUẤT 1874&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Truyện kí thứ bảy&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt; &lt;br /&gt;(phân đoạn 8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;      19&lt;br /&gt;                                                                                        &lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường có dịp được trầm ngâm ngồi đọc lại và suy ngẫm những gì ông đã làm, đã viết trong những ngày tháng qua. Đó là những ngày tháng dầu sôi lửa bỏng, bùng nổ những mâu thuẫn gay gắt của thời đại và của Tổ quốc. Đó cũng là bước ngoặt lịch sử bi tráng và bi phẫn. Bước ngoặt ấy diễn ra từ lúc Jean Dupuis bắt đầu gây rối, khích biến để tạo cớ cho thực dân Pháp ép ta ngồi vào bàn “hoà” nghị, và bởi sứ bộ không chịu “hoà” một cách thua thiệt, nhục nhã, nên chúng đẩy nhanh và mạnh âm mưu xâm lược Bắc Kì, những tưởng có thể nuốt trọng được cả hai đầu Đất nước Đại Nam.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường còn nhớ, nhớ như nhớ một tâm niệm, vào tháng ba nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi mốt, Mậu thìn (1868), với tư cách bồi sứ, nhân vật thứ ba của sứ bộ hồi ấy, ông đã viết bản sớ, thay mặt cả chánh sứ Nguyễn Văn Phong, phó sứ Phan Đình Bình, để bác bỏ yêu cầu của Pháp và của Nguyễn Trường Tộ, đại diện của cánh Thiên Chúa giáo do tên cố đạo thực dân Gauthier cầm đầu, về việc đàm phán “hoà” nghị. Ông kiên quyết không rơi vào mưu kế xảo trá của chúng để phải kí kết “hoà” ước mới, xoá bỏ “hoà” ước Nhâm tuất 1862, hợp thức hoá chủ quyền cho Pháp và “tả đạo” trên cả ba tỉnh Miền tây Nam Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, chúng bức chiếm từ năm 1867!), hoàn toàn chấp nhận lục tỉnh Nam Kì thành thuộc địa của chúng. Bấy giờ, từ năm Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp kí kết, ông cũng đã nhận ra, chính “hoà” ước Nhâm tuất 1862 ấy, một khi đã chấp nhận mất vào tay Pháp ba tỉnh Miền đông (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường), cũng đã chấp nhận bị thất thế về quân sự, và chắc chắn Pháp sẽ rất thuận lợi để chiếm nốt ba tỉnh Miền tây! Tại sao khi đàm phán “hoà” ước Nhâm tuất 1862, Pháp không chịu chiếm ba tỉnh Miền tây mà đòi cho được ba tỉnh Miền đông? Bởi không ai không biết, Pháp đã mưu toan chiếm gọn cả sáu tỉnh Nam Kì! &lt;em&gt;Chấp nhận mất ba tỉnh Miền đông, vô hình trung mà hiển nhiên chấp nhận mất luôn sáu tỉnh! &lt;/em&gt; Ba tỉnh Miền tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) bị cách bức, bị kẹp giữa ba tỉnh Miền đông (thuộc địa của Pháp) và Cao Mên (bấy giờ sắp rơi vào tay Pháp), quân binh Đại Nam ta làm sao tiếp viện để chiến đấu!&lt;br /&gt;      Từ năm Nhâm tuất (1862) đến khi Jean Dupuis (1872), rồi Françis Garnier (1873) gây rối, khích biến ở Bắc Kì, Pháp và “tả đạo” đã rất nhiều lần cử sứ giả ra Huế để yêu cầu triều đình chính thức hoá việc giao nhượng, kể cả khi chúng đã chiếm cứ nốt, và Phan Thanh Giản tự sát (1867)!&lt;br /&gt;      Việc Hà Nội thất thủ, danh tướng Nguyễn Tri Phương bị thương, bị bắt và tuẫn tiết, phò mã Nguyễn Lâm tử trận, cùng ba tỉnh khác, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, nối nhau thất thủ, quả thật, đã khắc vào gan ruột mọi người yêu nước một nỗi đau và niềm uất hận khôn nguôi. Pháp cũng không ngờ chúng có hậu thuẫn “tả đạo” và “phù Lê” đông đảo đến thế!? Một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” và hàng trăm tên ngụy tặc khác, cỡ như tên ngụy tổng đốc thợ rèn tên Trương! Do đó, &lt;em&gt;bốn tỉnh Bắc Kì trọng yếu nhất thất thủ, đâu chỉ do vài trăm tên lính viễn chinh mắt xanh mũi lõ, mà do lực lượng phản quốc ấy! &lt;/em&gt; Tất nhiên hoả lực và sức công phá của vũ khí bọn Pháp xâm lược cũng đáng kể! Chính Jean Dupuis cũng thú nhận là Hà Nội thất thủ, một phần đáng kể, rất quan trọng, là do lực lượng nội ứng “phù Lê” (trong đó có “tả đạo”, vốn mượn chiêu bài mị dân này) (229)!&lt;br /&gt;      Cuộc nội chiến lương – giáo Nam Đàng Ngoài, chủ yếu ở Nghệ – Tĩnh, vô hình trung, cũng đã là một động lực khá dữ dội, đẩy triều đình vào thế nguy khốn, đồng thời đặt Pháp và “tả đạo” vào thế không thể không thoả hiệp với triều Nguyễn. Do đó thương ước Giáp tuất 1874 phải lập tức được kí kết! Hai lãnh tụ cuộc khởi nghĩa văn thân Nghệ – Tĩnh, Trần Tấn và Đặng Như Mai, hẳn không ngờ đến hậu quả đó!&lt;br /&gt;      Sự thể đã như thế, còn cách nào khác, nên triều đình dưới quyền định đoạt của vua Tự Đức, và cũng dưới quyền thiên tử ấy, sứ bộ, trong đó Nguyễn Văn Tường là phó sứ, đành phải chấp nhận cưỡng ước “hữu nghị” và thương ước Giáp tuất 1874! Ông và chánh sứ Lê Tuấn, tham biện Nguyễn Tăng Doãn đã đấu tranh kiên trì, đấu tranh quyết liệt và nhẫn nại, nhưng cũng chỉ đạt đến mức thế đó. Chiến tranh ngoại xâm, Pháp và bọn giặc Cờ, cộng với nội phản, Hán gian (Hoa kiều…) và Việt gian (“tả đạo”, “phù Lê”, thổ phỉ, hải tặc…), lại cộng với cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ – Tĩnh chính là bối cảnh xám xịt và chói rực máu lửa của hai cưỡng ước “hữu nghị” và thương mại Giáp tuất 1874!&lt;br /&gt;      Vua Tự Đức, đình thần, hoàng tộc đánh giá là sứ bộ, đặc biệt là phó sứ Nguyễn Văn Tường, rất có công lao trong những tháng ngày dầu sôi lửa bỏng và bùng nổ xung đột, thù trong giặc ngoài ấy. Thượng thư Bộ Lại kiêm quản Quốc tử giám, Cơ mật viện đại thần Nguyễn Tư Giản ca ngợi thành công của Nguyễn Văn Tường trong việc đàm phán và thu hồi bốn tỉnh Bắc Kì, đến mức đề nghị vua Tự Đức ghi khắc vào đĩnh đồng, vào nhà đại lịch, để lưu lại nghìn sau (230), trong bài &lt;em&gt; “Biểu mừng ngày giảng hoà lấy lại bốn tỉnh” &lt;/em&gt;! Nguyễn Văn Tường được nhà vua phong đến bá tước với danh hiệu Kì Vĩ! Phạm Phú Thứ, thượng thư Bộ Hộ, đồng kiêm quản Quốc tử giám, Cơ mật viện đại thần, trong ngày chia tay, ra Bắc Kì làm tổng đốc Hải – Yên kiêm tổng lí thương chính đại thần (tương đương với Hoàng Tá Viêm trên mặt trận quân sự), có làm một bài thơ tặng Kì Vĩ bá Nguyễn Văn Tường. Ra đến đất Bắc, Phạm Phú Thứ mới gửi vào tặng ông. Ông cũng vừa mới nhận được.&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Bắc hành chu quá Bao Vinh Kì Vĩ bá biệt nghiệp, thích tuyên phong lễ thành, thư hạ nhân tự biệt&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt; - Nguyễn bá, húy Văn Tường, tiền sung toàn quyền đại thần, đồng Dương phái vãng Bắc kì, nhận hồi tứ tỉnh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Bang quốc chung xương vận&lt;br /&gt;Giang sơn xuất vĩ nhân&lt;br /&gt;Kinh trần bài đại nạn&lt;br /&gt;Mĩ dự bá chư lân&lt;br /&gt;Thế thưởng luận công mậu&lt;br /&gt;Dương sinh sức hỉ tân&lt;br /&gt;Phương thành xuân sắc cận&lt;br /&gt;Yến tập cựu tình chân&lt;br /&gt;Lang miếu trù duy thiết&lt;br /&gt;Giang hồ ngụ mị tần&lt;br /&gt;Du nhiên chinh lỗ ý&lt;br /&gt;Mai nguyệt trầm hà tân.&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;                      PHẠM PHÚ THỨ (231)&lt;br /&gt;             &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thuyền đi ra Bắc Kì, ngang qua vườn nhà riêng của Kì Vĩ bá ở Bao Vinh, vừa gặp lễ tuyên phong xong, viết thư mừng, nhân kể nỗi biệt li&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt; - bá tước Nguyễn, tên húy là Văn Tường, trước đó sung chức toàn quyền đại thần, cùng phái viên Tây dương (Pháp) đi Bắc Kì nhận lại bốn tỉnh &lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;&lt;em&gt;Vận nước thật tốt lành&lt;br /&gt;Núi sông hiện vĩ nhân&lt;br /&gt;Bụi chiến! Trừ tai họa!&lt;br /&gt;Danh người thơm lân bang  &lt;br /&gt;Đời luận khen công lớn&lt;br /&gt;Khí dương nỗi vui tràn&lt;br /&gt;Sắc xuân quanh thành ngát&lt;br /&gt;Bạn cũ tiệc ân cần&lt;br /&gt;Triều miếu việc chu tất&lt;br /&gt;Thuyền ta trôi trường giang&lt;br /&gt;Càng xa thêm rộng ý&lt;br /&gt;Cành mai chìm ánh trăng (231).&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;Đất nước vun nên vận sáng&lt;br /&gt;Núi sông xuất hiện vĩ nhân&lt;br /&gt;Đời lo xua từng nạn lớn&lt;br /&gt;Tiếng tốt vang các lân bang&lt;br /&gt;Nhân gian luận khen công đẹp&lt;br /&gt;Khí dương vui thắp chồi xuân&lt;br /&gt;Danh thơm thành mùa thắm thiết&lt;br /&gt;Tiệc nồng họp tình thật thân&lt;br /&gt;Kế nghĩ triều đình sâu khắc&lt;br /&gt;Giấc trọ giang hồ vội tàn&lt;br /&gt;Ý mái chèo xa, rong ruổi&lt;br /&gt;Bờ sông mai nở chìm trăng&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;       &lt;br /&gt;      Thú thật, thượng thư Nguyễn Văn Tường rất cảm tạ tấm lòng tổng đốc, tổng lí thương chính Phạm Phú Thứ. Đó là bài thơ của Phạm Phú Thứ viết để ca ngợi ông về chiến công ngoại giao, đàm phán trong mười sáu tháng vừa qua, trong chức năng phó sứ rồi chánh sứ sứ bộ. Tuy nhiên, với Nguyễn Văn Tường, ông đã tự chế giễu: &lt;em&gt;"bởi kẻ bề tôi bất tài, nên mới giảng nói việc chiến hòa của ba nước; chỉ nhà vua với mệnh lệnh sẵn có, cam đành dằn xóc chốn núi biển bảy năm [1868 – 1874]" (dĩ thần bất tài, giảng thuyết chiến hoà tam quốc sự; duy quân sở mệnh, khi khu sơn hải thất niên gian) (232) &lt;/em&gt;. Chính câu đối ấy ông tự viết và tự treo trong gian giữa của ngôi nhà mình, như một minh định: chiến, mới là tiên quyết và hậu quyết! Ông khẳng định với mọi người và với chính mình, khi giặc xâm lược, chân lí giản dị nhất và đúng đắn nhất là chiến, phải chiến đấu để đuổi cổ bọn xâm lược ấy. Chỉ vì những kẻ bề tôi như chính ông bất tài, mới phải vất vả, nhẫn nại, đấu dịu giảng “hoà” với chúng, bọn ngoại xâm ấy. Đó là giặc Pháp, Y Pha Nho cùng các nước Âu Mỹ khác và bọn cố đạo thực dân đội lốt tôn giáo, một tôn giáo bị xuyên tạc thành “tả đạo” để phục vụ cho âm mưu xâm lược, nô dịch, kể cả bọn Tàu bất nhân bất nghĩa… “Hoà”, thực chất là chịu nhân nhượng, phải cắt đất, chia dân, phải cam đành cắn răng chấp nhận các điều khoản bất bình đẳng với các cưỡng ước rất đáng bi phẫn! Và nói một cách khái quát, giản lược, “tam quốc sự” vẫn là việc ba nước, chủ yếu là &lt;em&gt; “nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa” (233) &lt;/em&gt;!&lt;br /&gt;    Thượng thư Nguyễn Văn Tường dù được công nhận là vĩ nhân, kì vĩ, tài trí, giỏi ứng đối và rành rõi trong giao thiệp, vẫn thật lòng tự thâm tâm ông, ông không chấp nhận một "hòa" ước, thực chất là nhượng ước, hàng ước nào cả, nên lời khen của Phạm Phú Thứ chỉ đúng ở một phần nào. May chăng, ông tự nhủ, đó là năng lực cá nhân trong việc vận dụng sắc lệnh của nhà vua mà bất kì kẻ bề tôi nào cũng không dám kháng chỉ.&lt;br /&gt;      Và chính kẻ thù, dẫu rất căm thù ông, về sau cũng đã thừa nhận &lt;em&gt; “chẳng mấy chốc [Philastre] dần dần chịu ảnh hưởng của ông bộ trưởng đối ngoại [đúng ra là chánh sứ], và nhất là ông Nguyễn Văn Tường trong khi ông Philastre làm phiên dịch chính thức ở Sài Gòn cho ông Tường và ông Tường là phó lãnh sự [đúng ra là phó sứ] […] Bản thân ông Philastre, như ông đã nhiều lần bày tỏ lúc còn ở Bắc Kì, là thật tình ông không tán thành về ý kiến đặt nền bảo hộ Pháp ở Đông Dương. Ông cho đó là nguồn gốc của một thất bại và tai hại. Nước An Nam, theo ý ông, không cần đến sự giúp đỡ tốt [!] của chúng ta và đây là một tội ác về vi phạm nhân đạo, bóp chết một nền văn hóa lâu đời và đáng trọng này. Tôi không trách ông Philastre về những sự mến chuộng của ông đối với nền văn minh này và tôi xin nghiêng mình cảm phục về tính năng động và trình độ hiểu biết của ông; nhưng tôi cũng nghĩ rằng tốt hơn là ông đừng nhận cái trọng trách kinh khủng là làm đại diện và bênh vực quyền lợi của nước Pháp bên cạnh Triều đình Huế. Cách suy tư của ông Philastre đúng là chỉ để khuyến khích vua Annam nối lại quan hệ chư hầu [!] giữa An Nam và Trung Hoa và chẳng thèm đếm xỉa gì đến hiệp ước 1874. Như vậy chính phủ An Nam vừa kêu cứu nước Pháp đánh dẹp bọn cướp nước người Hoa (tháng 12.1878), lại vừa yêu cầu sự giúp đỡ của hai tổng đốc Lưỡng Quảng cùng trong mục đích đó” (234) &lt;/em&gt;. Tất nhiên, về sau, các cố đạo mới viết thành chữ trên báo, theo quan điểm thực dân “tả đạo”, nhưng ngay lúc này, họ đã cam đành cùng nhau thừa nhận tài năng của thượng thư Nguyễn Văn Tường, đối phương của họ, và về tên thực dân Philastre, một tên thực dân ít nhiều còn có ý thức về công lí của nhân loại, đã ảnh hưởng bởi sự tâm công của chánh sứ Lê Tuấn, và nhất là sự tâm công của phó sứ Nguyễn Văn Tường! Lúc này, ông cũng đã nghe chúng nói xa gần về chánh sứ họ Lê, về ông và về tên thực dân Philastre, kẻ còn có trái tim người như thế!&lt;br /&gt;      Đó là tiếng nói của những người cùng thời của ông và về sau. Họ đã khẳng định bản lĩnh văn hóa Việt của Nguyễn Văn Tường trong cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao với thực dân Pháp. Chiến công ngoại giao, chính trị này của Nguyễn Văn Tường, trước hết và có ý nghĩa sâu sắc nhất là, trong đó, có chiến thắng văn hóa. Philastre cũng là một nhà ngôn ngữ học, Phương Đông học, Việt Nam học, là một tên thực dân có học vấn và có trái tim nhân bản (trong chừng mức nào đó) (235). Chính Nguyễn Văn Tường đã tâm công, đánh thức lương tri của y bằng văn hóa Việt. Và chính Philastre, tự bản chất, cơ hồ y vẫn là một trí thức Pháp còn chưa bị chủ nghĩa thực dân Pháp và Âu Mỹ làm tha hoá đến mức đáng kinh tởm!&lt;br /&gt;      Nguyễn Văn Tường được gọi là vĩ nhân, được tôn xưng là vị bá tước kì vĩ, chính là ở điểm này. Ông tự nghĩ, phải chăng là thế?&lt;br /&gt;      Trong sự ngợi ca Nguyễn Văn Tường của Phạm Phú Thứ, ở bài thơ trên, phải chăng có biểu hiện sự chiến bại khá văn hóa, khá nhân bản của trái tim thực dân dẫu sao cũng vẫn còn chất người của Philastre, ở một mức nhất định?&lt;br /&gt;      Dẫu sao đi nữa, thượng thư Nguyễn Văn Tường cũng biết, thậm chí hiểu rất sâu sắc, lời ca tụng, ngợi khen trong trường hợp nào đó, với ai đó, là liều thuốc độc bọc đường! Dĩ nhiên, cũng như sắc dụ ban khen của hoàng đế Tự Đức, ở Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản và triều thần, ông hiểu đó là lời ngợi ca của những người hiểu rõ hành trạng ông nhất, họ rất chân thành. Ông cảm động, cảm ơn nhưng vẫn dặn lòng mình cố tỉnh táo.&lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường còn hiểu rất rõ, không chiến thì không thể đàm phán thắng lợi, đánh phải đi đôi với đàm. Đó còn do công lao chỉ huy, yểm trợ và trực tiếp chiến đấu, của thống đốc Hoàng Tá Viêm, tham tán đại thần Tôn Thất Thuyết và “hiệp sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ tà” Lưu Vĩnh Phúc:&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Vua bảo quan Viện Cơ mật và Thương bạc rằng: “Điều hay thì không điều nào nhỏ nào là không ghi lấy, huống chi có công lớn. Viêm và Thuyết mùa đông năm ngoái giết được đầu sỏ giặc [Françis Garnier], làm mất khí thế của chúng, Nguyễn Văn Tường nhân đấy dễ làm việc. Văn Tường nói: “Tuy có trở ngại một chút, nhưng thực giúp được nhiều. Đấy là lời bình tâm, không khoe công. Viêm và Thuyết nên [được] phong tước, giả [:trả] lại chức quan””. [Nhà vua] bèn thưởng thụ Hoàng Tá Viêm là hiệp biện đại học sĩ, tấn phong Địch Trung tử [:tử tước với danh hiệu Địch Trung], vẫn sung làm Tam Tuyên quân thứ thống đốc đại thần; Tôn Thất Thuyết làm Binh bộ hữu tham tri, tấn phong là Vệ Chính nam [:nam tước với danh hiệu Vệ Chính], vẫn sung làm tham tán đại thần; đều gia thưởng kim khánh, kim tiền [cho cả hai]” (236).&lt;br /&gt;      “Chuẩn cho Lưu Vĩnh Phúc được nhắc bổ làm phó lãnh binh quan quân thứ ấy. Đoàn quân ấy từ quản đội trở xuống, thưởng cho thăng ba trật và thưởng tất cả binh dõng đi trận ấy bạc lạng và tiền (bạc ba trăm bốn mươi lăm [345] lạng, tiền ba ngàn [3.000] quan). [Đó] là [do] xét công đánh trận Cầu Giấy” (237) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Đó còn là công lao của đoàn tuỳ tùng luôn sát cánh và cận vệ cho Nguyễn Văn Tường:&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Nguyên khâm sai Nguyễn Văn Tường nghĩ thuộc viên ở Nội các mùa đông năm ngoái, tuỳ phái đi ra Bắc Kì, [nhất] là Nguyễn Đăng Ngoạn (lãnh trước tác), Đoàn Như Bích (lãnh biên tu), trong khi đi làm việc [tỏ ra] đắc lực, [nên] tâu xin nghĩ thưởng. Vua chuẩn cho đều được thực thụ và gia thưởng (Ngoạn một đồng, Bích ba đồng) và thưởng cho lính đi theo tiền lương một tháng, có thứ bậc, để tỏ ý thể tất” (238) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Dẫu vậy, chẳng hiểu sao, thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn âu lo hậu thế sẽ nguyền rủa ông hoặc bắt chước ông kí kết với giặc ngoại xâm những cưỡng ước đau lòng đến thế! Hãy hiểu cho, thế nước yếu hèn mới phải thế! Hãy hiểu cho, chính những kẻ thần tử, bầy tôi bất tài như ông, không đuổi cổ được Pháp, Y Pha Nho, “tả đạo”, cũng như những tên thực dân da trắng hung hãn khác (Anh, Đức, Nga, Mỹ, Hà Lan, Bỉ…), đang lăm le hất cẳng Pháp để giành chỗ, và cả bọn Tàu đủ màu sắc, dạng thể (Hoa kiều, giặc Cờ, tổng đốc Vân Nam, Lưỡng Quảng…)! Hãy hiểu cho, triều vua Tự Đức và dân tộc ta, cho đến lúc này, phải chống Pháp, “tả đạo” và các nước da trắng thực dân cấu kết với nhau, trong điều kiện nước ta cô độc về ngoại giao, không có được một liên minh hỗ trợ nào! Tình cảnh cô độc, bị li gián ấy, ở nước ta, cũng như ở mọi nước châu Á Tế Á (Asie) khác!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Dĩ thần bất tài, &lt;br /&gt;       giảng thuyết chiến hoà &lt;br /&gt;            tam quốc sự                                        &lt;br /&gt;Duy quân sở mệnh, &lt;br /&gt;khi khu sơn hải thất niên gian&lt;br /&gt;                                                                         &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi kẻ bề tôi bất tài,&lt;br /&gt;nên mới giảng nói việc chiến hòa&lt;br /&gt;của ba nước&lt;br /&gt;Chỉ nhà vua với mệnh lệnh sẵn có,&lt;br /&gt;cam đành dằn xóc chốn núi biển bảy năm&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;                                         &lt;br /&gt;      Thượng thư Nguyễn Văn Tường đã bao năm sôi kinh nấu sử, ông hiểu mọi đánh giá đều phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong tương quan lực lượng cụ thể, và phải có tầm nhìn xa rộng ra các nước lân bang đương thời, đồng đại… Trong bối cảnh lịch sử cụ thể như vậy, vua Tự Đức, triều thần và sứ bộ, trong đó có ông, chỉ có thể chiến đấu với thù trong giặc ngoài đến thế! Nếu xét xem, thấy thế nước còn mạnh, có thừa sức lực hay ít ra cũng đủ để đuổi cổ bọn ngoại xâm các loại, trấn áp được những đồng bào cam tâm biến thành ngụy tặc, tay sai của giặc, thì hậu thế hãy nguyền rủa triều Tự Đức, trong đó có ông, cứ nguyền rủa đến muôn đời, bởi đã chấp nhận các cưỡng ước đau lòng đến vậy! Và hãy hiểu cho, với mọi người Đại Nam yêu nước, sáng suốt, “hoà” ước Giáp tuất 1874, không phải không đau lòng, nhưng đó là nỗi đau lòng xen lẫn với sự nhận thức tỉnh táo rằng, đó là một thắng lợi trong bối cảnh lịch sử ấy. Đồng thời, hãy hiểu cho, về phía thực dân Pháp, “tả đạo”, “hoà” ước Giáp tuất 1874, đối với chúng, cũng thắng lợi nhưng cũng đau lòng không kém! Thực dân viễn chinh Pháp cầm súng và đội lốt tôn giáo cầm thập giá không đau xót đến cuồng điên thế nào được trước tổn thất quá lớn của chúng: Tất cả cơ sở hậu thuẫn của chúng, suốt bao nhiêu năm chúng mất bao công sức gầy dựng, tiêm chích “nọc độc”, đã bị lộ mặt, đúng hơn là tự “lật tẩy”: hàng trăm tên ngụy tặc, cỡ như tên ngụy tổng đốc thợ rèn tên Trương, với một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” Bắc Kì, và hẳn cũng số lượng tương đương như thế ở Nam Đàng Ngoài (Nghệ – Tĩnh là chủ yếu).&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Khi ấy phái viên nước Pháp là Lê Na [Rheinart] dời đến đóng ở Hải Dương (nguyên trước đóng ở Hà Nội) đưa thư xin sao và giao cho [y] án chém của bốn tỉnh (các án từ tháng chạp năm ngoái đến tháng hai [năm Giáp tuất 1874], nhân dân các tỉnh bị chém). Quan ở Viện Cơ mật và Nha Thương bạc tâu nói: “Phái viên nước Pháp chuyên coi việc buôn bán, lại muốn lấn quyền. Xin giữ lẽ bác [bỏ] đi”. Vua khen là phải” (239), (157) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Cả hai phía đều xem“hoà” ước Giáp tuất 1874 là nỗi đau lòng! Nhưng ở phía nào là nỗi đau lòng chính nghĩa, nỗi đau lòng của công lí dân tộc (cũng là công lí nhân loại) về độc lập dân tộc, về tự do (không bị nô dịch) của nhân dân trước tình trạng công lí ấy bị chà đạp? Ở phía nào là nỗi đau lòng của cuồng vọng tham lam trong tâm địa bọn thực dân kẻ cướp, của lũ ngoại xâm kẻ trộm, theo cách nói của Philastre? Còn nỗi đau lòng ô nhục của bọn phản quốc “tả đạo”, “phù Lê” (hai bộ phận nhân dân ta), ở phía nào? Sự phân biệt về chất, tự nó đã quá rõ ràng.&lt;br /&gt;      Tuy vậy, phải thấy rõ: Sự tự “lật tẩy” của tất cả lực lượng phản quốc người Việt Đàng Ngoài, bọn Hán gian, là một thắng lợi lớn của triều đình Đại Nam, cũng là của tuyệt đại bộ phận sĩ dân yêu nước Đại Nam. Và tất nhiên, với cách hiểu ý tại ngôn ngoại, hay đúng hơn là căn cứ vào hiện thực lịch sử bấy giờ, đó cũng là thắng lợi của “hoà” ước Giáp tuất 1874. Việc bọn phản quốc tự “lật tẩy” và sau đó chúng bị án chém (người Việt), bị trục xuất cảnh ngoại (đuổi bọn Hoa kiều bất nhân bất nghĩa về nước) (240), để Đàng Ngoài tiệt sạch bè lũ “thù trong”, chẳng là một thắng lợi, thì còn biết gọi là gì!&lt;br /&gt;      Vì thế, có những tên thực dân hậm hực, hận thù, tìm cách xuyên tạc, giễu cợt, mỉa mai về chiến công ngoại giao của sứ bộ, đặc biệt là của sứ thần Nguyễn Văn Tường, như Rheinart, trong bức thư y trình gửi cho tên thống đốc Nam Kì Le Myre de Vilers, vào ngày 30.11.1881 (239), chẳng hạn. Một nỗi hậm hực, hận thù đáng kinh tởm của tâm địa thực dân, dai dẵng đến bảy năm trời (1874 – 1881) và còn sục sôi dai dẳng mãi đến về sau!&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Philastre ra tới Bắc Kì với ý định dứt khoát là lập tức trả lại những thành trì mà Françis Garnier đã chiếm được. Sứ thần Nguyễn Văn Tường chỉ phải mệt nhọc là nhận những thành trì đó từ tay phái viên Pháp. Nhưng khi trở lại Huế, [Nguyễn Văn] Tường đã tuyên bố rằng thành công là nhờ vào tài khéo léo, vào sức thuyết phục của mình, rằng Tự Đức đã chịu ơn khi thâu hồi lại các tỉnh Bắc Kì trong một thời gian đã tưởng là mất. Giả thuyết ấy được người ta tin, và làm cho [Nguyễn Văn] Tường, kể từ năm 1874, trở thành nhân vật ảnh hưởng nhất triều đình Huế. Được coi như con người dũng mãnh đã làm cho Pháp phải nhả Bắc Kì, nay [Nguyễn Văn] Tường cũng được coi như người có khả năng làm cho Pháp nhả nốt Nam Kì” (241) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Với điều khoản X của “hoà” ước Giáp tuất 1874, nếu Pháp chấp nhận thực thi nghiêm chỉnh, thì triều đình Huế và dân tộc Đại Nam vẫn đã giữ được lòng sĩ dân Nam Kì trước sự nhồi sọ, nô dịch của chúng. Phó sứ Nguyễn Văn Tường đã thao thức, trăn trở:&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Thần trộm nghĩ rằng có người mới có đất, mà thu phục nhân tâm thì chính trị tốt không bằng giáo hóa tốt. Các hạt trong Nam vốn có dựng văn miếu, có thầy dạy, có trường thi, nhưng từ khi hữu sự đến nay bỏ phế đã lâu vậy…&lt;br /&gt;       Xin được ưng thuận cho đem lí lẽ tranh biện với nó, đòi hỏi cho ta được trùng tu văn miếu để tiện phụng thờ, cắt đặït giáo chức để rèn luyện học trò và mở trường thi để thu nhiều kẻ học. Dân giáo nếu xin nhập học, ứng thí cũng cho.&lt;br /&gt;       Như thế thì cõi bờ dù có mất mát chìm đắm, chính lệnh tuy chưa tới được, nhưng giáo hoá vẫn còn có thể thi hành, lấy đó mà vun trồng đạo lí, kích thích sĩ phu. Chúng nó mới đến, dùng chính sách hà khắc, ta lấy thiện giáo dạy dỗ dân. Tuy mất đất đai nhưng có được lòng người, thì cũng có thể dùng về sau. Vả lại, bên ngoài ta lấy vẻ mặt tươi cười chờ đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự trị, binh khí, thuyền súng có nhân viên đảm trách, người người tự nỗ lực, tự mưu tính để chờ cơ hội, thì cái hiệu nghiệm lúc xế chiều không phải là muộn vậy” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày mùng mười [10] tháng tám [8] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]) (58).&lt;br /&gt;      Ngày 30.11.1881, tên thực dân Rheinart còn viết thư báo cáo (242), với cách nhận định sự thực theo cái nhìn và ý định “thực dân hạng nặng” của y:&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Khi trở thành đứng đầu phe cứng rắn, chính [Nguyễn Văn] Tường đã xúi Tự Đức coi thường hiệp ước năm 1874. Do đó, làm cho mối quan hệ Việt – Pháp suy thoái dần” (242) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Những gì chất chứa nỗi hậm hực và căm thù dai dẳng ở bọn Pháp về ông, thượng thư Nguyễn Văn Tường đã nghe, đã thấy từ nhiều năm trước, trong những tháng ngày vừa qua, và ngay cả mấy hôm cuối tháng mười, đầu tháng mười một nguyệt lịch năm Giáp tuất (1874) này, đâu phải đợi đến nhiều năm về sau.&lt;br /&gt;      Lúc này, thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn đang đọc lại, suy nghĩ về những gì mình đã viết, và ông không thể không ngẫm ngợi về những trực nhận của ông qua dáng điệu, thái độ hằn học làm ra vẻ cao đạo của đối phương, về những lời tiếng phong thanh xuyên tạc không ít ác ý của kẻ thù ngoại xâm…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hết tệp 8, TRỌN truyện kí thứ 7&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 7 vào lúc 11 giờ kém 05,&lt;br /&gt;ngày 09.11.2002&lt;br /&gt;(05.10 Nh. ngọ, HB.2). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(229) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 514.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(230) HYTPK. &amp; STBCNTNVLS., Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 451 – 452. GS. Trần Văn Giàu đánh giá rất “tả” khuynh, cực đoan, thiếu cái nhìn khoa học với quan điểm lịch sử – cụ thể! GS. bất chấp điều kiện hiện thực của giai đoạn lịch sử cụ thể, cứ lấy một hệ tiêu chí chủ quan của bản thân, đồng thời dựa vào thế và lực nửa sau thế kỉ XX (Liên Xô, CHND. Trung Hoa…), để mạt sát quá khứ! Một cách chắc chắn, quan điểm sử học của GS. Trần Văn Giàu là mao-ít (maoisme), duy ý chí, chứ không phải mác-xít – lê-nin-nít (marxisme – léninisme), lại càng không phải hồ-chí-minh-nít (hochiminhisme)! Và xét trên quan điểm tổng thể của cuốn CXL., gắn liền với trường hợp khác, như thể hiện qua cách đánh giá về Nguyễn Trường Tộ chẳng hạn, GS. lại tỏ ra rất chiết trung! Xin xem thêm: Trần Xuân An, Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, bản in vi tính, chưa có điều kiện xuất bản rộng rãi (2002). Trong cuốn sách này, chúng tôi đã có trích dẫn để đối thoại về tác phẩm sử học Chống xâm lăng của GS. Trần Văn Giàu (trong giới hạn đề tài). Kính mong được GS. chỉ dạy thêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(231) Thơ Phạm Phú Thứ, bản dịch thơ 1 của Tôn Thất Mạnh Hào, bản dịch thơ 2 của Trần Xuân An.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(232) Câu đối của Nguyễn Văn Tường do nhà thơ Lương An sưu tầm. Xin xem: KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. &amp; TT., bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản), bài thơ số 44, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần Xuân An, tr. 77 – 79.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(233) Tên sách Yoshiharu Tsuboi: NĐNĐDVP. &amp; TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(234) NNBCĐH., bài “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên” của linh mục Aldophe Delvaux, tập III, bộ sđd., 1997, tr. 36 – 37. Chúng tôi đã phê phán các bài viết trên NNBCĐH. (BAVH.) của các cố đạo thực dân (cũng như các tên thực dân cầm súng và thống trị khác) trong lời thưa đầu sách của cuốn: Trần Xuân An (biên soạn), Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản rộng rãi).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(235) NĐNĐDVP. &amp;TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 116 – 117.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(236) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 26 – 27.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(237) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 27.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(238) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 25.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(239) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 54.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(240) CXL., sđd., 2001, tr. 319.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(241) NĐNĐDVP. &amp; TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 269.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(242) NĐNĐDVP. &amp; TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 270.              &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Soạn xong phần chú thích&lt;br /&gt;lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002&lt;br /&gt;(10.10 Nh. ngọ, HB.2). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HẾT TỆP 8 &lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 8) &lt;br /&gt;trọn TRUYỆN KÍ THỨ 7 (gồm 8 tệp)&lt;br /&gt;thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin xem tiếp TỆP 9&lt;br /&gt;(phân đoạn 1 truyện kí thứ 8)&lt;br /&gt;thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”&lt;br /&gt;&amp; các tệp kế tiếp &lt;br /&gt;trên &lt;strong&gt; Tạp chí điện tử Giao Điểm&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ghi chú về tác giả:&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trần Xuân An&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;(có bài kí bút danh: Trần Ngôn Sử)&lt;br /&gt;Sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế;&lt;br /&gt;Nhân tộc: Kinh (Việt Nam);&lt;br /&gt;Quê gốc: Quảng Trị;&lt;br /&gt;Tốt nghiệp khoa ngữ văn Việt ĐHSP. Huế (1974 – 1978);&lt;br /&gt;Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983;&lt;br /&gt;Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu&lt;br /&gt;(Hội viên Hội Nhà văn TP. HCM.).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1971, cùng bạn bè chủ trương tập san &lt;em&gt;Đất Vàng&lt;/em&gt;, trong giới học sinh ở Tam Kỳ (Quảng Nam – Đà Nẵng), với bút hiệu &lt;em&gt;Huyên Đình (Người Mẹ)&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;1973, &lt;em&gt; “Tiếng chuông xưa” &lt;/em&gt;, bài thơ lãng mạn đầu tiên in trên Tuổi Ngọc.&lt;br /&gt;1975, được tặng thưởng &lt;em&gt; “Một trong mười bài thơ hay nhất trong năm”&lt;/em&gt; của báo Văn nghệ Giải phóng.&lt;br /&gt;1991, giải &lt;em&gt;Sáng tạo trẻ&lt;/em&gt;, Hội VHNT. Quảng Trị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;DANH MỤC&lt;br /&gt;TÁC PHẨM, SOẠN PHẨM, BIÊN KHẢO&lt;br /&gt;CỦA TÁC GIẢ&lt;br /&gt;(tính đến 2005)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Tác phẩm đã xuất bản và đã đăng kí bản quyền tại Cục bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam: &lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Nắng và mưa, thơ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 7-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm&lt;br /&gt;2. Hát chiêu hồn mình, thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuananthitap2.blogspot.com/ &lt;br /&gt;3. Tôi vẫn ở trên đường, thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuananthitap3.blogspot.com/&lt;br /&gt;4. Lặng lẽ ở phố, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/&lt;br /&gt;5. Kẻ bị ném vào bão, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuananthitap5.blogspot.com/&lt;br /&gt;6. Hát với đời ơi thương mến, thơ, Nxb. Trẻ, 1996.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuananthitap6.blogspot.com/&lt;br /&gt;7. Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/&lt;br /&gt;8. Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 7-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm&lt;br /&gt;9. Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/ &lt;br /&gt;10. Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/&lt;br /&gt;11. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM.&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm&lt;br /&gt;Blogger tháng 12-2005&lt;br /&gt;http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/   &amp; … 2a … 2b …&lt;br /&gt;12. Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003; NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 7-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Tác phẩm đã hoàn tất bản thảo:&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;13. Mùa hè bên sông (Nỗi đau hậu chiến), tiểu thuyết, 1997; hai bản đã sửa chữa và bổ sung, 2001 (lần hai) và 2003 (lần ba).&lt;br /&gt;Website Giao Điểm:&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 6-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm&lt;br /&gt;14. Thơ những mùa hương, thơ.&lt;br /&gt;Blogger tháng 11-2005&lt;br /&gt;http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/&lt;br /&gt;http://tranxuananthitap9.blogspot.com/&lt;br /&gt;15. Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, thơ.&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 9-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm&lt;br /&gt;16. Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn, 1999.&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 10-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Soạn phẩm biên khảo đã hoàn tất bản thảo:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;17. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000 &amp; 2003.&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 8-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm&lt;br /&gt;18. Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.&lt;br /&gt;19. Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.&lt;br /&gt;20. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 &amp; 2003. Website Giao Điểm:&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm&lt;br /&gt;21. Suy nghĩ về một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, khảo luận, 7.2004.&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com tháng 9-2005&lt;br /&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Địa chỉ: &lt;br /&gt;71B Phạm Văn Hai, &lt;br /&gt;Phường 3, quận Tân Bình&lt;br /&gt;(cửa hiệu PHAN HUYÊN) &lt;br /&gt;TP. HCM. &lt;br /&gt;ĐT.: 08.8453955 &lt;br /&gt;&amp; 0908 803 908 &lt;br /&gt;Email: tranxuanan_vn@yahoo.com &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI TRUY CẬP THÊM &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CÁC ĐỊA CHỈ WEBs / BLOGs&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;(bấm vào các đường LINKs sau đây):&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;I. THƠ :&lt;/strong&gt; _________________________&lt;br /&gt;________________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanantthitap1.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanantthitap1.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananthitap2.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananthitap2.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananthitap3.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananthitap3.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananthitap5.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananthitap5.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananthitap6.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananthitap6.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananthitap9.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananthitap9.blogspot.com/ &lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II. TIỂU THUYẾT :&lt;/strong&gt; _________________&lt;br /&gt;________________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;III. PHÊ BÌNH – TIỂU LUẬN :&lt;/strong&gt; ________&lt;br /&gt;________________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tacphamtranxuanangiaodiem.blogspot.com/"&gt;http://tacphamtranxuanangiaodiem.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanantieuluan.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanantieuluan.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuanantieuluan9b.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanantieuluan9b.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;IV. TRUYỆN – SỬ KÍ – &lt;br /&gt;KHẢO CỨU TƯ LIỆU LỊCH SỬ :&lt;/strong&gt; ____________&lt;br /&gt;________________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananpcdtnvt2a.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananpcdtnvt2a.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananpcdtnvt3a.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananpcdtnvt3a.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananpcdtnvt3b.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananpcdtnvt3b.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananpcdtnvt4a.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananpcdtnvt4a.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananpcdtnvt4b.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananpcdtnvt4b.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananpcdtnvt4c.blogspot.com/"&gt;http://tranxuananpcdtnvt4c.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;V. TRANG PHỤ : PHẢN HỒI : ĐỒNG CẢM – TRAO ĐỔI – LÀM RÕ &amp; ĐÍNH CHÍNH &lt;/strong&gt; _____________&lt;br /&gt;_________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://tranxuananp-trphu.blogspot.com/"&gt;http://tranxuanan-trphu.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HOẶC CÓ THỂ BẤM VÀO DÒNG CHỮ &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VIEW MY COMPLETE PROFILE&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;Ở BẢNG &lt;strong&gt;ABOUT ME&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;ĐỂ TỪ NHỮNG ĐƯỜNG &lt;strong&gt;LINKs&lt;/strong&gt; TẠI ĐÓ,&lt;br /&gt;ĐỌC NHỮNG TÁC PHẨM KHÁC CỦA TÁC GIẢ&lt;br /&gt;TRÊN &lt;strong&gt;WEBs / BLOGGER&lt;/strong&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;NGOÀI RA, CÓ THỂ TRUY CẬP THÊM &lt;br /&gt;CÁC TÁC PHẨM SÁNG TÁC, KHẢO LUẬN, BIÊN SOẠN &lt;br /&gt;CỦA TÁC GIẢ &lt;br /&gt;TRÊN &lt;strong&gt;TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ GIAO ĐIỂM&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;(xin bấm vào các đường LINKs sau đây):&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm"&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm"&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm"&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm"&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm"&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm"&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm"&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1205_index.htm"&gt;http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1205_index.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm"&gt; http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trân trọng và cảm ơn.&lt;br /&gt;Tác giả,&lt;br /&gt;Trần Xuân An&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/19823518-113446564670105322?l=tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/feeds/113446564670105322/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=19823518&amp;postID=113446564670105322' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113446564670105322'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113446564670105322'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/2005/12/ph-chnh-i-thn-nguyn-vn-tng-tp-ii-b-8.html' title='PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 8)'/><author><name>Phan Huyên Đình (Trần Xuân An)</name><uri>http://www.blogger.com/profile/04366565891846379473</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='21' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger/3234/1819/1600/A%203.1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-19823518.post-113446267077700032</id><published>2005-12-13T00:17:00.000-08:00</published><updated>2005-12-13T00:36:27.196-08:00</updated><title type='text'>PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 7)</title><content type='html'>Tệp 7 - Tập II Blog B&lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 7, TRUYỆN KÍ THỨ 7)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sẽ đăng trên &lt;strong&gt;Tạp chí điện tử Giao Điểm&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;số tháng 12-2005&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm"&gt; http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”&lt;br /&gt;VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,&lt;br /&gt;GIÁP TUẤT 1874&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Truyện kí thứ bảy&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;(phân đoạn 7)&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;      17&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Tháng chín nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (1874), thượng thư Bộ Hình, sung Cơ mật viện đại thần, tước hiệu Kì Vĩ bá Nguyễn Văn Tường có dịp để suy nghĩ về bản thân, khi nghe được nhận định của thượng thư Bộ Lễ Lê Bá Thận, lúc vị quan họ Lê này được thăng thự hiệp biện đại học sĩ, lại được sung Cơ mật viện đại thần. Nhận định ấy Lê Bá Thận viết trong bản sớ xin từ, không dám nhận hàm chức mới được phong:&lt;br /&gt;      &lt;em&gt;“… Nay lạm dự vào Viện Cơ mật, tâm cơ, thù ứng cho khéo, nghĩ làm nhanh nhẹn tinh tường, thần không bằng Phạm Phú Thứ; học thức sâu rộng, mưu chước tinh thâm, thần không bằng Nguyễn Tư Giản; làm việc, tính kế thường hợp cơ nghi, có tài hoạt bát ứng biến, thần không bằng Nguyễn Văn Tường…” (217) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Ông xem đó cũng là lúc mình phải soi thấy được mình qua đồng sự. Với nhận định đó, ông tự bảo, không bao giờ nên tự mãn. Và thật ra, mục tiêu cùng phương châm &lt;em&gt; “chiến để hoà, hoà để thủ, và thủ để chiến” &lt;/em&gt;, chiến là tiên quyết và hậu quyết, đồng thời, &lt;em&gt; “hoà” với nghĩa là để canh tân Đất nước&lt;/em&gt;, ông thấy nào đã làm được gì đâu. Năm nay, ông cũng đã bước vào tuổi năm mươi mốt (51), kể cả một tuổi trong lòng mẹ!&lt;br /&gt;      Cũng tháng chín, vua Tự Đức còn ra sắc dụ &lt;em&gt; “ban cấp hai bản hoà ước, thương ước cho các địa phương” (218) &lt;/em&gt;, bởi &lt;em&gt; “khi ấy, hai bản ước cùng với người nước Pháp đã bàn định xong, đình thần lo về lòng người ngờ vực, xin ban mệnh lệnh trước” (218) &lt;/em&gt;, mặc dù chưa được quốc trưởng Pháp và vua Tự Đức phê chuẩn, làm lễ hỗ giao.&lt;br /&gt;      Vua Tự Đức xuống dụ:&lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “… Từ xưa vẫn không phải cậy hoà để dựng nước, mà [cũng] chưa từng không giảng hoà để cho quân nghỉ ngơi. Tạm thời làm việc [giảng hoà này] phải đều là tính cho dân.&lt;br /&gt;      … […] Duy nghĩ: Thường tình người ta, quen ở thói thường, tình thế trong ngoài, không trông thấy rõ, thì ý kiến này khác, hoặc chưa bỏ hết, nên [trẫm] phải không sợ phiền, hiểu bảo cặn kẽ trước khi có việc. Phàm các quan thân, sĩ thứ, quân dân của ta, đều phải đặt lẽ phải ở lòng mình, nên lấy việc nước làm trọng, chớ lấy kế riêng làm đầu, chớ đem bàn ngang khác nhau ở đường ngõ, chớ cho lời răn bảo của triều đình làm tờ giấy suông… […] … Gần đây triều đình Trung Quốc cùng bốn nước ở biển Tây [Anh, Nga, Đức, Mỹ…] giảng hoà, cũng cho đặt khâm sứ, lãnh sự, và các người buôn nước Tây buôn bán ở bờ cửa biển Trung Quốc. Đây đều là việc dĩ nhiên, ai cũng tai nghe mắt thấy, […] cũng không phải một mình nước ta. Phải nên nghĩ kĩ trước sau, trên dưới cùng lòng, để giữ toàn cục. Trẫm có lòng mong” (219) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Phải chăng vua Tự Đức và triều thần muốn san phẳng lòng hoài nghi, hoài nghi về phía này, phía khác, và san phẳng cả sự khác biệt về chính kiến trước bước ngoặt lịch sử mới của Tổ quốc Đại Nam? Thật lòng, không ai không ngờ vực về “thiện chí” của thực dân Pháp và cố đạo đội lốt tôn giáo! Cuối cùng, trừ bản “hoà” ước không phổ biến rộng, còn thương ước được in sao ra nhiều bản, niêm yết khắp các phủ huyện (219).&lt;br /&gt;      Sau đó khoảng một tháng, từ “dữu dân”, “tả đạo”, hoặc “đạo” đều được thay bằng từ “giáo dân”, với nghĩa là dân có giáo hoá. Còn hai từ Pháp đề nghị là “nghĩa dân”, “đức dân”, không được chuẩn. Và từ đó, cũng thay từ “lương dân” thành “bình dân”, với nghĩa là dân có lòng hoà hảo (220). Đó cũng là việc thực thi điều khoản IX của “hoà” ước Giáp tuất 1874.&lt;br /&gt;      Công việc triển khai “hoà” ước còn thể hiện trong việc sắp xếp lại nhân sự. Phạm Phú Thứ được điều bổ làm thự tổng đốc Hải [Dương] – [Quảng] Yên, kiêm sung tổng lí thương chính đại thần. Trần Bình: thượng thư Bộ Hộ. Nguyễn Tăng Doãn chính thức lãnh tuần phủ Hải Dương. Trần Hy Tăng thôi giữ chức tuần phủ Trị – Bình, ra Hà Nội làm tuần phủ (Phạm Thận Duật về kinh, đợi bổ chức vụ khác). Nguyễn Thành Ý: khâm phái kiêm lãnh sự ở Gia Định. Phó lãnh sự tại Gia Định là Phan Kiêm Ích (221).&lt;br /&gt;      Bấy giờ, sứ bộ sang Trung Hoa do Phan Sĩ Thục làm chánh sứ trở về nước, lại bị bọn thổ phỉ, giặc Cờ vàng làm nghẽn đường (222)!&lt;br /&gt;      Cũng vào thượng tuần tháng mười này, chánh sứ Nguyễn Văn Tường lại phải cùng các tuỳ tùng xuống tàu thuỷ hơi nước vào lại Gia Định. Chả là tên thống đốc Krantz cứ nằng nặc yêu sách vua Tự Đức và triều thần chấp nhận sửa đổi một phần của điều khoản thứ 02 trong thương ước cứ ngỡ là đã hoàn tất từ hạ tuần tháng bảy nguyệt lịch trước! Một lần nữa, nhà vua và các đại thần cố nhẫn nại (223)!&lt;br /&gt;      Ông cùng các tuỳ tùng liền trở về kinh đô Huế sau khi kí xong.&lt;br /&gt;      Thượng thư Bộ Hình, sung Cơ mật viện đại thần, tước hiệu Kì Vĩ bá Nguyễn Văn Tường từ đây mới thực trở thành rường cột thường trực ngay tại triều đình Đại Nam. Hạ tuần tháng mười nguyệt lịch, ông còn được vua Tự Đức cử làm công việc của một đại thần quản lí sự vụ Nha Thương bạc với thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản. Ông thật lòng muốn từ chối, bởi phải đảm đương việc ngoại giao, ngoại thương ấy trong thời đoạn &lt;em&gt; “chịu khuất” &lt;/em&gt;, với &lt;em&gt; “sách lược thoả hiệp tạm thời” &lt;/em&gt; chỉ chuốc thêm những nỗi đau lòng và phẫn uất. Nhưng rồi vẫn không thể khước từ được, nên phải đành khiêm tốn viết sớ nhận chức, bởi không thể nhận chức một cách miễn cưỡng!&lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “Cho Nguyễn Tư Giản kiêm sung Nha Thương bạc, [Nguyễn Tư] Giản dâng sớ xin từ. Vua bảo rằng: “Chức Thương bạc của nước ta chỉ là hàm hư, để tiện làm giấy tờ giao thiệp mà thôi, không phải ví như Nha môn Tổng lí ở nước Thanh. Phàm việc đã cùng với Viện [Cơ mật] bàn làm; chỉ thảo giấy tờ, lại có Viện [Cơ mật] bàn để sửa chữa; xét ra không có việc gì khó lắm, tưởng ngươi cũng có thể làm được. Duy có trong khi bàn bạc, tưởng cũng để cho ngươi tập mà biết, cho có nhiều nhân tài, không chỉ một người giữ mãi. Ngươi không thể tất ý ấy chăng? Nhưng lúc này thường xem ngươi về khoa ngôn ngữ hình như chưa được giỏi. Nay đương được chức ấy, chỉ Nguyễn Văn Tường; [Nguyễn Văn Tường] làm việc ấy trước sau vốn đã am hiểu thông thạo, đã không lãnh chức Thương chính cũng lãnh chức Thương bạc, để việc giao thiệp với nước ngoài được phát triển mưu mô, nói hết lời, xem hiệu quả, cho xứng ý trẫm; [trẫm] bắt phải làm cho xong. Nguyễn Văn Tường, ngươi phải kiêm sung chức ấy. Nguyễn Tư Giản, ngươi cũng không được giữ ý kiến, và không bắt chước người [chỉ] giỏi hư văn mà ít thực dụng, mới là không hổ thẹn”” (224) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      Vua Tự Đức đã phải quở trách cả hai đại thần gần như quở mắng!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      18&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt;CHÂU BẢN  (225)&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;      “Người Tây xảo trá trăm mối, việc nghe đoán càng phải thận trọng” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày sáu [06] tháng hai [02] năm Tự Đức thứ hai mươi mốt, Mậu thìn [1868]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “Người Phú kia đã chiến thắng ta, việc đánh giữ khổ biết bao, mà vẫn đòi ta cùng thề, [là] bởi vì nó từ trùng dương mà tới, chễm chệ ở đất ta, bên trong thì sĩ dân ta chống lại, bên ngoài thì các nước vây quanh dòm ngó, ăn ngủ sao yên, cho nên ắt phải đòi ta kí hoà ước, để khiến cho ta phải chịu đè nén, lấp đường công luận của các nước, mà cô lập tình trông mong của sĩ dân ta, tiện cho nó từ từ xử trí. Điều đó là sự khu xử giảo hoạt của nó. Nếu không thế, sao năm trước hoà ước phân minh, mà nay phó hoàn toàn cho hư văn, lại còn đòi sửa lại!” &lt;/em&gt; (Bản tấu tháng ba [03], năm Tự Đức thứ hai mươi mốt [21], Mậu thìn [1868]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Đánh thì việc đã qua, không dám nói lại. Hoà như nay thì có gì để trông cậy?…&lt;br /&gt;      Vả, không lo bọn giặc ngang ngược, chỉ lo ta không thể tự cường, không lo bọn giặc tham tàn, chỉ lo ta không thể tự giữ…&lt;br /&gt;      Kinh sư là đất căn bản, đồn luỹ đã vững chăng? Khí giới đã tinh chăng? Chí quân lòng dân đã được khích lệ chăng? Đường bộ, đường thủy, phòng bị đã vững khắp chăng? Tỉnh Bình Thuận đương xung yếu, các tỉnh đạo khác cũng có hải phận, quân lương binh lính làm thế nào cho tinh và đủ? Hào mục, sĩ dân làm thế nào cho chuyên luyện? Nơi nào hiểm yếu cần phải giữ? Phép phòng thủ nào tất vững? Hoặc đặt riêng chuyên viên để uỷ thác công việc, hoặc chọn cử thổ hào các nơi để cho quen thuộc. Phàm những điều ấy tưởng cũng nên xét kĩ, trù liệu chín chắn và sớm thi hành để khỏi trở ngại về sau” (Vua Tự Đức châu phê: “Điều trần này thảy đều thiết thực”) &lt;/em&gt;. (Bản tấu tháng ba [03], năm Tự Đức thứ hai mươi mốt [21], Mậu thìn [1868]).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Chức tước của khanh là do ân mệnh, là bởi nghĩ đến ngày xưa siêng năng, lao nhọc, được ơn tri ngộ, chứ không phải tầm thường. Như ta từ khi lên ngôi đến nay, đối với khanh, chưa có mảy may gì ân huệ, [nhưng cũng] đã từng lấy lễ nghĩa tình cảm đối đãi (tình lễ tương đãi). Mỗi khi có hỏi han gì, khanh từng cảm kích, ứa nước mắt, ta cho là ý khí cùng hợp nhau” &lt;/em&gt; (Châu phê trên bản tấu đề ngày mùng một [01] tháng bảy [07] năm Tự Đức hai mươi mốt [21],  Quý dậu [1868], về tình hình lương, dữu).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Phận tuy nhỏ nhưng được ân tri ngộ như thần cũng hiếm. Thần mỗi khi tự nghĩ đều thấy mình vô tài, mà sứ mệnh lại hỏng, sợ khó mà báo đáp cho xứng với trọng trách. Cho nên từ lúc giúp việc binh tào [một bộ phận của Bộ Binh: biện lí] cho đến lúc lạm dự kinh doãn, nhiều phen muốn trần tình, xin giữ vụng để may mà khỏi phụ ơn ban. Rồi lần lượt được hoàng thượng thức tỉnh, cân nhắc cho. Sấm sét hay mưa móc thảy đều ngụ ý sinh thành. Thần như thế chỉ biết cúi đầu tỏ bày sự ngu muội, mong càng thấu cho sự cảm kích, nỗ lực. Tuy phong trần đã trải, nhưng còn được thân này, danh và thực đều nhờ hoàng thượng gầy dựng vậy. Nay đi Tây, đã vâng lời giản uỷ, lại vâng hỏi đến nhiều điều trọng sự. Thần là thế nào mà được quyến cố tin tưởng, dù lạm dự chứ chẳng là phận sẵn, thì biết báo đáp thế nào cho xứng đáng. Thần xin dám quyết tâm, xin mạo muội tâu bày” &lt;/em&gt; (Bản tấu đề ngày mùng bảy [07] tháng sáu [06] nhuận, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]).&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “Lại như Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình làm như thế nào mà đều không công hiệu. Đoàn Thọ trị chức cũng không phải nhỏ, cớ sao chẳng có khả năng? Trẫm thường than thở: Biết dùng người thậm khó” &lt;/em&gt; (Châu phê trên bản tấu ngày mùng bảy [07] tháng sáu [06] nhuận, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]). &lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “Nhờ đại tạo tác thành may được dự hàng cống sĩ (năm Tự Đức thứ ba [1850], đội ơn chuẩn cho thi lại, trúng được cử nhân)” &lt;/em&gt; (Nam Kì tấu nghị, bản tấu số mười lăm [15], không đề ngày tháng năm [?]).&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Ông vạch ra khuyết điểm trong việc tuyển bổ quan lại”:&lt;br /&gt;      - “Tuyển bổ không hợp với kiến thức, tài năng, “lấy quan thái y mà cử làm phủ huyện, kẻ lại điển mà cất làm học quan”” &lt;/em&gt; (Bắc Kì tấu nghị, bản tấu ngày hai mươi [20] tháng sáu [06] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]).&lt;br /&gt;      - &lt;em&gt; “Tuyển bổ mà chỉ dựa vào bằng cấp thì cũng không đáng tin cậy. Chỗ nào cho kẻ thư sinh tay trắng mà có học thức, khả năng?”.&lt;br /&gt;      - “Tuyển bổ bằng cách điền khuyết: nhiều người chờ đợi được bổ vào một chức vụ (khi có người về hưu, hay thuyên chuyển đi nơi khác…). Cách này dễ khiến cho người ta hối lộ để được ưu tiên, khiến “kẻ được bổ không cần đợi, người đợi thì không bổ”” (226) &lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Vả mạng của ngươi cũng oái oăm, mới vào thi thì đã khổ, bể hoạn cũng chìm nổi, đáng thương thay!… Lại như ngươi lúc thiếu niên, có chuyện bất bình, do kêu được thì sáng tỏ, rồi sau thì thôi” &lt;/em&gt; (Châu phê trên bản tấu ngày hai mươi [20] tháng sáu [06] nhuận, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu [1873]).  &lt;br /&gt;                  &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Trộm nghĩ: thần khí cục hèn mọn, nhà cỏ hoang sơ, buổi đầu vì tội trừ tên, kế đến mang ơn dự thí, gió mây gặp hội, gỗ vông đã nấu mà có tiếng vang” &lt;/em&gt; (Nam Kì tấu nghị, bản tấu số mười sáu [16], không đề ngày tháng năm [?]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Trộm xét các nước Tây thường chuộng công lợi lại tham lam, giảo quyệt, mà nước Phú [Pháp] và nước Anh là nhất. Các nước Đông phương ta gặp lúc này khó tiến. Đại Thanh, Nhật Bản, Cao Ly, Xiêm La, Cao Miên, Miến Điện đều bị họ lộng hành. Ta cũng bị như thế… Hiện nay Gia Định thuế phiền, sưu nặng, dân không đường sống, thì việc nổi dậy cũng chưa biết ngày nào… Lục tỉnh [Nam Kì] là đất phì nhiêu đã rơi vào họng đói của nó, tự không phải là thế bị bức bách [đến mức vô phương cứu vãn], mà chính là lực không đủ để nó nhả ra&lt;/em&gt; (Nam Kì tấu nghị, bản tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Bọn Pháp là &lt;em&gt; “cọp đói, ưng đói chẳng chịu bỏ miếng mồi ngon” &lt;/em&gt; (Nam Kì tấu nghị, bản tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Bọn Tây dương tính tham, chấp theo điều lợi. Ấy là tìm được rồi lại sợ mất đi. Thật là khó lấy nghĩa lí, trí thuật làm lay chuyển nó nghe theo” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Ôi đất đai khai thác gian nan mà một sớm nhượng cho người. Hoàng thượng nhức nhối trong lòng đã lâu, mà tôi con cũng không dám lộ ra ngoài miệng” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]).   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       &lt;em&gt; “Thần trộm nghĩ rằng có người mới có đất, mà thu phục nhân tâm thì chính trị tốt không bằng giáo hóa tốt. Các hạt trong Nam vốn có dựng văn miếu, có thầy dạy, có trường thi, nhưng từ khi hữu sự đến nay bỏ phế đã lâu vậy…&lt;br /&gt;       Xin được ưng thuận cho đem lí lẽ tranh biện với nó, đòi hỏi cho ta được trùng tu văn miếu để tiện phụng thờ, cắt đặït giáo chức để rèn luyện học trò và mở trường thi để thu nhiều kẻ học. Dân giáo nếu xin nhập học, ứng thí cũng cho.&lt;br /&gt;       Như thế thì cõi bờ dù có mất mát chìm đắm, chính lệnh tuy chưa tới được, nhưng giáo hoá vẫn còn có thể thi hành, lấy đó mà vun trồng đạo lí, kích thích sĩ phu. Chúng nó mới đến, dùng chính sách hà khắc, ta lấy thiện giáo dạy dỗ dân. Tuy mất đất đai nhưng có được lòng người, thì cũng có thể dùng về sau. Vả lại, bên ngoài ta lấy vẻ mặt tươi cười chờ đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự trị, binh khí, thuyền súng có nhân viên đảm trách, người người tự nỗ lực, tự mưu tính để chờ cơ hội, thì cái hiệu nghiệm lúc xế chiều không phải là muộn vậy” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]).&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Cốt yếu ở chỗ ta phải có thế không thể xâm phạm, sau đó mới lấy lẽ không thể dung tha được để trách người” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [1873]).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Việc lương – đạo thù nhau, thần đã từng lấy làm lo. Đã cho đạo binh kinh lược [của Nguyễn Chính (Chánh)] đi nhanh để trấn áp và [thông] tư cho các tỉnh bắt giữ, phủ dụ, khiến cho cùng yên… Thần trộm xét sự thế Bắc Kì dần dần sẽ xong, chỉ có việc lương – đạo không yên làm cho các việc nhân đó mà đổi khác” &lt;/em&gt; (Châu bản, tấu, ngày mùng năm [05] tháng chạp [12] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu, [1973, đầu năm 1874]).&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Nay mai việc lương – đạo ở các tỉnh khá yên, chỉ còn lại vài tên côn đồ thì đã có đạo binh của quan kinh lược [Nguyễn Chính] tuỳ cơ tiễu trừ, phủ dụ, ít lâu sẽ xong. Duy thần trộm nghĩ, muốn việc về sau tốt đẹp thì nên xem chuyện lương – đạo là rất quan trọng. Kẻ gánh vác phải có nhiều cách thể hiểu dụ, dạy bảo khiến cho người ta trông cậy ở mình mà không sợ hãi, tin mình mà không nghi, mới có thể cùng quay về điều tốt đẹp” &lt;/em&gt; (Châu bản, tấu, ngày mùng năm [05] tháng chạp [12] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quý dậu [đầu năm 1874]).&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Riêng các tỉnh Nam Kì, khai thác gian nan mà nay một sớm nhượng cho người. Kính nghĩ: trong lòng Hoàng thượng có điều u uẩn, phận tôi con phải lập công báo đáp” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày mùng sáu [06] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Mảnh đất cô huyện ấy kẹp giữa Phú và Miên, ngửa đông nghiêng tây, sức nào giữ vững, hao tốn chẳng xong, cuối cùng sẽ rơi vào kế xảo trá của nó. Nếu không thế thì đất Cửu Long hoang rậm xa xôi, nó còn muốn chiếm hết để mở mang, huống chi ba tỉnh cận kề bụng nó, há dung cho khỏi cắt lìa? Đó cũng là tình ý của giặc mọi rợ [:Pháp] không thể không xét”&lt;/em&gt; (Nam Kì tấu nghị, bản tấu ngày mùng sáu [06] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;    &lt;em&gt; “Thế thì toàn cõi trong Nam, muốn thu hồi hết cũng thậm khó mà chỉ một nửa cũng không dễ” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày mùng sáu [06] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Khanh đã biết rõ cái gì đáng lo, cái gì chưa, thì từ rày về sau phàm sự gì nghe được khanh cứ giãi bày dâng lên. Điều gì đã biết thì không gì không nói hết, như họ Lý [Lý Hồng Chương], họ Tăng [Tăng Kỷ Trạch] của nước Thanh vậy. Trẫm vốn muốn nghe, không câu nệ là [việc] ở trong hay ở ngoài, đều nghe sự giãi tỏ đầu đuôi, đến khi nào tạm thấy hiệu nghiệm, thì đúng là: khanh trên không phụ thái tổ, giữa không phụ trẫm, dưới không phụ thiên hạ. Có được bầy tôi như thế, muôn đời đều khen. Nếu nói trau chuốt suông, hoặc có mảy may ẩn giấu, không chịu hết sức, gặp việc gì lui rồi nói sau, hoặc đã lâu ngày mà chẳng thấy chút hiệu nghiệm, thì đó là khanh đem tất cả điều khinh khi để tự khinh mình vậy, quyết không thể dung được trên đời!” &lt;/em&gt; (Châu phê trên bản tấu ngày mùng sáu [06] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “Kính, từ khi hoàng thượng nối tiếp cơ đồ lớn lao, vỗ yên vận sáng, tuy trì doanh bảo thái [giữ sự thịnh vượng, tốt lành – chú thích của dịch giả, nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh], chưa từng không lấy sự gắng gỏi làm nỗi lo toan. Nhưng quá nửa ngày thì trời xế, ngược với sáng là tối, [vốn] là lẽ tuần hoàn xưa nay thay đổi. Cho nên, trong thì biến loạn anh em [Hồng Bảo, Ưng Đạo], ngoài thì cái hoạ mọi rợ [Pháp, Tây Ban Nha], Nam Kì đất cũ thì trầm luân, Bắc Kì thì giặc cướp liền năm” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày hai mươi bảy [27] tháng mười [10] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Nay đương chức trong ngoài, tham nhũng, hèn yếu không phải là không có, nhưng kẻ có tài lo liệu cũng chưa từng thiếu. Kẻ gặp việc lo thì tránh khéo, ở chức công mà chỉ lo vui với việc riêng, đã được trích ra trừng trị, răn dạy để sửa chữa thì cũng ít vậy. Thậm chí có kẻ theo việc mà đòi ăn hối lộ, khác nào chợ búa, càng không biết liêm sỉ là gì nữa. Than ôi, nhân tâm một phen sao đến thế! Hay là đường sĩ hoạn chưa được sạch trong? Không biết lấy gì để làm cho chính sự ham chuộng [lẽ sạch trong] như thế ư?” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày hai mươi bảy [27] tháng mười [10] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “[Theo sứ mệnh được hoàng thượng giao phó], thần thường tiếp người nước Thanh, nước Tây. Họ đâu phải tất cả đều siêu việt! Chỉ vì họ lấy cái thực mà làm, còn ta thì lấy cái hư để đối phó. Lấy cái thực để đối với cái hư, thì mạnh, yếu đã phân rõ. Sau này việc giao thiệp càng phiền toái, trách nhiệm về bờ cõi càng nặng. Thế cho nên đảm đương công tác rất gấp mà chưa lấy việc sửa đổi bên trong làm đầu… thì cũng không đâu vào đâu vậy” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày 27 tháng 10 năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất [1874]).  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Kính mong hoàng thượng chọn người chân chính sung lo việc thuyên tuyển, khiến cho nắm lấy công bằng, tiến lui tất có ý […]. Mong hoàng thượng vững quyền truất giáng để khích lệ người tài năng, để người người đều tận lực trong công việc. Nội trị được sửa đổi thì ngoại trị khá hưng, mới có thể thư nỗi lo đêm ngày” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày hai mươi bảy [27] tháng mười [10] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;     &lt;em&gt; “Đến như thần đã không có tài khác, đường làm quan trắc trở, đã nhiều lần lạm dự vào ơn mưa móc không phải phận mình [cách nói khiêm tốn thời phong kiến], mới có được ngày nay. Kính được sai làm sứ, thần nào dám tiếc tâm sức. Duy được thờ hoàng thượng trải hơn hai mươi năm nay, ở bên ngoài thì nhiều, chưa am hiểu chính thể. Nếu như ban ơn chỉ dụ cho ở tại kinh, hầu hạ bên cạnh, được nghe lời răn dạy, để cho thần mở óc ngu tối mà giảm bớt lỗi lầm, đợi đến kì sai phái lui tới với Tây, tuỳ cơ thương thuyết để tiện lo cứu vãn, hoặc có thể đền đáp trọng trách muôn một. Ấy là nguyện vọng của thần vậy” &lt;/em&gt; (Bản tấu ngày hai mươi bảy [27] tháng mười [10] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt; “Riêng thần là một kẻ hàn nho, được quyến cố, xin khắc lòng báo bổ… Nếu gặp lúc quan hệ, thần muôn vàn không dám làm kẻ bên lề ngồi xem thành bại, chỉ khư khư một tấm lòng đau khổ” &lt;/em&gt; (Nam Kì tấu nghị, bản tấu ngày mùng một [01] tháng mười một [11] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;em&gt;THƠ  (227)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Họa chính sứ Lê: “Tự Đông Gia&lt;br /&gt;khởi hành tựu Thuận tấn hỏa thuyền”&lt;br /&gt;nguyên vận&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kỉ niên sóc tái kiên nhung kì&lt;br /&gt;Thử nhật Tây phù tá hỏa trì&lt;br /&gt;Hoàng tuất tiền đồ kha khảm lịch&lt;br /&gt;Chi thương vãng sự hải tang di&lt;br /&gt;Lỗ tình tự thị đa tư sính&lt;br /&gt;Triều sĩ hà thường thiểu kiến nguy&lt;br /&gt;Độc quý phi tài thao trọng tuyển&lt;br /&gt;Sinh bình đồ tụng bách thiên thi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt; “Từ Đông Gia&lt;br /&gt;bắt đầu đi đến thuyền hơi nước&lt;br /&gt;ở cửa Thuận” &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Họa thơ chánh sứ Lê Tuấn (Lê Toán)&lt;br /&gt;                                        &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bao năm đầu ải, vững cờ soi&lt;br /&gt;Nay vượt biển Tây, xe sứ ngồi&lt;br /&gt;Xa liệu, cứu dân, đường sóng gió&lt;br /&gt;Kính thương, biến nỗi, việc thung đồi&lt;br /&gt;Giặc khoe, cứ mãi khua nương thế&lt;br /&gt;Quan ngó, sao thưa thấy hiểm thời?&lt;br /&gt;Cúi thẹn không tài, vua quý chọn&lt;br /&gt;Sống thường tay trắng, đọc thơ thôi!&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Họa chính sứ Lê: "Đăng yết Thiên Y&lt;br /&gt;tháp tại Bình Thuận (228) tỉnh, Cù&lt;br /&gt;Huân tấn", nguyên vận&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quần phong tranh hạ nhất loan hoành&lt;br /&gt;Địa mạn sơn cao thủy diệc thanh&lt;br /&gt;Thác tục đương niên truyền Liễu Hạnh&lt;br /&gt;Siêu tình hà xứ tiếp kì sinh?&lt;br /&gt;Thê nham linh tích tồn chiêm vọng&lt;br /&gt;Phù hải kì duyên tá phẩm bình&lt;br /&gt;Nam thổ thiên thu hoàn cố quốc&lt;br /&gt;Quy cương ưng tướng thử Tây hành.&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;"Lên thăm tháp Thiên Y&lt;br /&gt;tại cửa hải phòng Cù Huân,&lt;br /&gt;tỉnh Bình Thuận"&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;               Họa thơ chánh sứ Lê Tuấn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cụm đồi tranh xuống đầm ngang sâu&lt;br /&gt;Biếc núi đất xuôi nước ánh màu&lt;br /&gt;Mượn tục, xa thời truyền Liễu trước&lt;br /&gt;Vượt phàm, nào chốn nối đời sau?&lt;br /&gt;Dấu linh hang lạnh trông vời đó&lt;br /&gt;Duyên lạ biển cồn (bồng) khen trách đâu&lt;br /&gt;Nghìn thuở đất Nam về nước Việt&lt;br /&gt;Ứng giùm, thu cõi, chuyến đi Âu!&lt;br /&gt;       &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thuyền cận Cần Giờ&lt;br /&gt;nghịch phong bất tiến&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phan Thiết kê minh nhất dạ đàm&lt;br /&gt;Bà sơn bạc mộ bán vi lam&lt;br /&gt;Hải quang tinh tán ba triều bắc&lt;br /&gt;Oa phị (phí) yên phi hỏa chuyển nam&lt;br /&gt;Lãnh thượng chiêu đăng tiêu tức cận&lt;br /&gt;Thuyền đầu khuy kính lộ trình am&lt;br /&gt;Thừa phong vạn lí hoàn dung dị&lt;br /&gt;Chỉ xích trì hồi dã khởi cam.&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thuyền gần đến Cần Giờ,&lt;br /&gt;gặp gió ngược, không đi tới được&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phan Thiết, một đêm gà rộn đầm&lt;br /&gt;Núi Bà chiều nhạt nửa sương thâm&lt;br /&gt;Biển ngời sao tản, khơi chầu bắc&lt;br /&gt;Nồi bỏng khói bay, lửa chuyển nam&lt;br /&gt;Đèn vẫy đỉnh non: tin báo tới&lt;br /&gt;Liếc gương đầu lái: dặm ngàn băng&lt;br /&gt;Vạn trùng theo gió lui thường dễ&lt;br /&gt;Gang tấc chậm, quành, không lẽ cam!&lt;br /&gt;       &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Tặng Dương quan&lt;br /&gt;(Gia Định tỉnh nhân)&lt;br /&gt;vãng Hương Cảng&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lục thất niên dư hựu nhất lai&lt;br /&gt;Ngã lai quân khứ lưỡng bồi hồi&lt;br /&gt;Khứ lai dị lộ quân tu kí&lt;br /&gt;Mạc sử lâm kì hữu sở xai [:sai]!&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Tặng quan làm ở cửa biển cho Tây,&lt;br /&gt;người tỉnh Gia Định, đi Hương Cảng&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáu, bảy năm hơn, đến một lần&lt;br /&gt;Anh đi, tôi đến, đều tần ngần&lt;br /&gt;Đến, đi, khác đường, anh nên nhớ&lt;br /&gt;Đừng để đang khi, tình phải cân!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trú Gia Định&lt;br /&gt;quan Tây viên hữu cảm&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khách xá công dư hướng vãn thiên&lt;br /&gt;Xa hoành khúc kính quá đông biên&lt;br /&gt;Sổ lan mao giới giai tân vật&lt;br /&gt;Bán bức hoa cầm dị vãng niên&lt;br /&gt;Đối cảnh kham bi thùy tác chủ&lt;br /&gt;Phùng nhân nan đạo thử lai duyên&lt;br /&gt;Như hà tạo hóa do đa sự&lt;br /&gt;Không sử lê viên nhuận nhất biên.&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Ở Gia Định, xem vườn thú Tây lập,&lt;br /&gt;cảm xúc&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà khách, trời chiều, việc sứ thưa&lt;br /&gt;Bờ đông, cong lối, ngựa xe đưa&lt;br /&gt;Nhiều chuồng lông la là loài mới&lt;br /&gt;Nửa khoảnh chim hoa khác vẻ xưa!&lt;br /&gt;Đối cảnh buồn ai: trò chủ cướp!&lt;br /&gt;Gặp người bảo chúng: nghiệp riêng mua?&lt;br /&gt;Cớ sao trời đất còn nhiều chuyện&lt;br /&gt;Khiến nỗi vườn hề phải chép thừa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Quá Kim Chương tự&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tằng hướng trường sinh thuyết tức ki [:cơ]&lt;br /&gt;Bách niên thế sự bất thăng bi&lt;br /&gt;Các trung đế tử kim hà tại?&lt;br /&gt;Thành quách nhân dân bán dĩ phi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đi ngang qua chùa Kim Chương&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo thuật trường sinh bàn thở sâu&lt;br /&gt;Trăm năm khôn xiết việc đời sầu!&lt;br /&gt;“Con vua trong gác nay đâu nhỉ?”&lt;br /&gt;Thành quách, nhân dân, một nửa đâu!&lt;br /&gt;       &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đề Bình Tây tướng quân&lt;br /&gt;Lê quận công mộ&lt;br /&gt;(mỗi cú hữu sổ mục tự) &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nam tử đương vi nhất thế hùng&lt;br /&gt;Bán thiên ứng vận kỉ như công!&lt;br /&gt;Lưỡng kì sử tải khôi cương tích&lt;br /&gt;Bách chiến nhân suy [:thôi] hỗ giá công&lt;br /&gt;Tam xích hiệp [:luân] phong tồn cố liệp&lt;br /&gt;Cửu nguyên cô phẫn khởi lương cung&lt;br /&gt;Vị khôi thất thập niên tiền sự&lt;br /&gt;Tụng biến bình Tây lục tỉnh trung.&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Nêu lên những suy nghĩ&lt;br /&gt;trước ngôi mộ Bình Tây tướng quân&lt;br /&gt;được phong tước quận công&lt;br /&gt;Lê Văn Duyệt&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gánh việc, thân trai một kiếp hùng&lt;br /&gt;Nửa ngàn đáp vận ai như ông?&lt;br /&gt;Hai miền sử chuyển: cầm cương búa&lt;br /&gt;Trăm trận người tôn: phò chúa công&lt;br /&gt;“Ba thước” lặng phong còn tích cũ&lt;br /&gt;“Chín miền” riêng hận dậy cung đồng&lt;br /&gt;Chưa tàn, chuyện bảy mươi năm trước!&lt;br /&gt;Ca khắp: Bình Tây, đất Cửu Long.&lt;br /&gt;       &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Tại Gia Định đắc báo tham biện&lt;br /&gt;Nguyễn chi tử thu tiệp&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khách trung xa mã yếm phi trần&lt;br /&gt;Hồi ức thu vi tập tấn thân&lt;br /&gt;Phan quế thử lang nghi đắc thủ&lt;br /&gt;Thừa sà ngô bối vị tri tân&lt;br /&gt;Gia nghiêm trách trọng thần vi phụ&lt;br /&gt;Quốc khánh thù nan tử hữu quân&lt;br /&gt;Vân thủy hà thời quy cựu phố&lt;br /&gt;Nhất môn vũ trạch cánh thiêm tân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Ở Gia Định&lt;br /&gt;được tin con trai tham biện&lt;br /&gt;Nguyễn Tăng Doãn thi hương đỗ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quê xa người ngựa, chán phong trần&lt;br /&gt;Nhớ buổi thi hương tập tấn thân&lt;br /&gt;Vin quế chàng này càng rõ vững&lt;br /&gt;Cỡi bè đây lão chẳng hay gần&lt;br /&gt;Tôi, quan, làm bố, nghiêm bồ chữ&lt;br /&gt;Vua, nước, tuyển con, nặng gánh ân&lt;br /&gt;Mây sóng khi nào về bến cũ&lt;br /&gt;Hai ơn một cửa lại tươi ngần.&lt;br /&gt;       &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Tại Gia Định,&lt;br /&gt;được tin báo con trai tham biện&lt;br /&gt;Nguyễn Tăng Doãn thi đỗ&lt;br /&gt;kì thi mùa thu&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xa quê, chán bụi, ngựa người đua&lt;br /&gt;Nhớ thuở thi hương tiến bước xưa&lt;br /&gt;Vin quế, chàng này càng xứng nắm&lt;br /&gt;Cỡi bè, đây bọn chửa hay bờ!&lt;br /&gt;Nếp nghiêm, nho gánh, thần làm bố&lt;br /&gt;Đàn phúc, sĩ xây, con có vua&lt;br /&gt;Mây nước khi nào về bến cũ&lt;br /&gt;Một nhà nết đất sáng ơn mưa. &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hết tệp 7 truyện kí thứ 7&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 7 vào lúc 11 giờ kém 05,&lt;br /&gt;ngày 09.11.2002&lt;br /&gt;(05.10 Nh. ngọ, HB.2). &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(217) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 112 – 113.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(218) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 113.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(219) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 113 – 114.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(220) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 122 – 123.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(221) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 123 – 124, 125.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(222) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 115 – 116.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(223) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 103 – 104. Xin xem lại theo chú thích (203).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(224) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 126 – 127. “Thực dụng” (có tính thực tế) có nghĩa đối lập với “hư văn” (suông rỗng, viển vông), không phải “thực dụng chủ nghĩa” với nghĩa “tục dụng”. Kẻ “thực dụng chủ nghĩa” hoặc kẻ “tục dụng” chỉ chú trọng lợi ích vật chất, bất chấp đạo lí và các giá trị nhân văn khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(225) Châu bản Nguyễn Văn Tường (những bản tấu, sớ… của Nguyễn Văn Tường, có châu điểm, châu phê của vua Tự Đức); dẫn theo: Trần Viết Ngạc. Xin xem 2 chú thích (58) và (150).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(226) Dẫn theo lời dẫn gián tiếp và trực tiếp của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc, gồm cả các câu in theo kiểu chữ đứng, được đặt trong dấu ngoặc kép, ở đoạn này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(227) Kì Vĩ quận công thi tập, tư liệu Hội nghị Khoa học lịch sử với đề tài “Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường", ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996. Xin xem chú thích (211): KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. &amp; TT., sđd., bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản); các bài thơ đã trích ở trên, từ bài số 47 đến 51, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch thơ của Trần Xuân An, tr. 293 – 313. Người dịch thơ hoàn toàn tuân theo niêm luật thơ Đường. Ở các bản dịch thơ vào năm 2000 trong bản thảo cuốn sách đã dẫn, tôi có phần linh hoạt về niêm (như thơ hiện đại), để đỡ đơn điệu, nhưng cũng không để rơi vào khổ độc (trúc trắc khó đọc). Nay, tôi đã sủa chữa lại các bản dịch thơ năm 2000 ấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(228) Cù Huân (là một hải phòng tấn: cửa biển phòng thủ) thuộc Khánh Hoà, chứ không phải thuộc Bình Thuận. Hẳn có sự nhầm lẫn về địa danh ở đầu đề này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Soạn xong phần chú thích&lt;br /&gt;lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002&lt;br /&gt;(10.10 Nh. ngọ, HB.2).&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRẦN XUÂN AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HẾT TỆP 7 &lt;br /&gt;(PHÂN ĐOẠN 7 TRUYỆN KÍ THỨ 7)&lt;br /&gt;thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin xem tiếp TỆP 8 &lt;br /&gt;(phân đoạn 8 truyện kí thứ 7)&lt;br /&gt;thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/19823518-113446267077700032?l=tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/feeds/113446267077700032/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=19823518&amp;postID=113446267077700032' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113446267077700032'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/19823518/posts/default/113446267077700032'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/2005/12/ph-chnh-i-thn-nguyn-vn-tng-tp-ii-b-7.html' title='PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II B 7)'/><author><name>Phan Huyên Đình (Trần Xuân An)</name><uri>http://www.blogger.com/profile/04366565891846379473</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='21' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger/3234/1819/1600/A%203.1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
